Thư gửi cổ đông Berkshire Hathaway năm 1983 của Warren Buffett

  Dữ liệu gốc

Chuỗi bài dịch này nhằm phổ biến kiến thức gốc trực tiếp từ Warren Buffett. Khác với bài dịch các nơi khác (mà bạn có thể dễ dàng có bằng việc dùng AI hay Google Dịch), mình sẽ không dịch toàn phần mà chỉ dịch tập trung vào các phần mình đánh giá có liên quan đến kiến thức, triết lý đầu tư, kinh doanh, quản lý và bỏ qua các thông tin như kết quả vận hành trong năm, thay đổi nhân sự quản lý…, và kèm chút ý kiến bình luận cá nhân nếu có.

Thư gửi cổ đông năm 1983

With so many new shareholders, it’s appropriate to summarize the major business principles we follow that pertain to the manager-owner relationship:

o Although our form is corporate, our attitude is partnership. Charlie Munger and I think of our shareholders as owner-partners, and of ourselves as managing partners. (Because of the size of our shareholdings we also are, for better or worse, controlling partners.) We do not view the company itself as the ultimate owner of our business assets but, instead, view the company as a conduit through which our shareholders own the assets.

Dịch: Với nhiều cổ đông mới như thế này, nó là thích hợp để tóm tắt lại những nguyên tắc kinh doanh chính mà chúng tôi tuân thủ, liên quan đến mối quan hệ giữa quản lý và chủ sở hữu:

o Mặc dù hình thức của chúng ta là công ty cổ phần, nhưng thái độ của chúng tôi là quan hệ đối tác. Charlie Munger và tôi coi cổ đông của mình là những đối tác sở hữu, và bản thân chúng tôi là những đối tác quản lý. (Do độ lớn của lượng cổ phần chúng tôi sở hữu, nên dù tốt hay xấu, chúng tôi cũng là đối tác kiểm soát.) Chúng tôi không coi bản thân công ty là chủ sở hữu tối thượng của tài sản kinh doanh mà, thay vào đó, xem công ty là cầu nối mà thông qua đó các cổ đông của chúng ta sở hữu tài sản.

o In line with this owner-orientation, our directors are all major shareholders of Berkshire Hathaway. In the case of at least four of the five, over 50% of family net worth is represented by holdings of Berkshire. We eat our own cooking.

o Our long-term economic goal (subject to some qualifications mentioned later) is to maximize the average annual rate of gain in intrinsic business value on a per-share basis. We do not measure the economic significance or performance of Berkshire by its size; we measure by per-share progress. We are certain that the rate of per-share progress will diminish in the future – a greatly enlarged capital base will see to that. But we will be disappointed if our rate does not exceed that of the average large American corporation.

Dịch: o Tuân theo định hướng chủ sở hữu này, tất cả các giám đốc của chúng ta đều là cổ đông lớn của Berkshire Hathaway. Đối với ít nhất bốn trong năm giám đốc, hơn 50% giá trị tài sản ròng của gia đình họ là sở hữu cổ phần của Berkshire. Chúng tôi ăn chính đồ mình nấu.

o Mục tiêu kinh tế dài hạn của chúng tôi (lệ thuộc vào một số yếu tố sẽ được đề cập sau) là tối đa hóa tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm của giá trị kinh doanh nội tại trên mỗi cổ phần. Chúng tôi không đo lường sự quan trọng về kinh tế hay thành quả của Berkshire bằng quy mô kích thước; chúng tôi đo lường bằng sự tiến triển trên mỗi cổ phần. Chúng tôi chắc chắn rằng tỷ lệ tiến triển trên mỗi cổ phần sẽ giảm trong tương lai – một cơ sở vốn được mở rộng hơn rất nhiều sẽ bảo đảm điều đó. Nhưng chúng tôi sẽ thất vọng nếu tỷ lệ của mình không vượt qua mức của các công ty Mỹ lớn điển hình.

o Our preference would be to reach this goal by directly owning a diversified group of businesses that generate cash and consistently earn above-average returns on capital. Our second choice is to own parts of similar businesses, attained primarily through purchases of marketable common stocks by our insurance subsidiaries. The price and availability of businesses and the need for insurance capital determine any given year’s capital allocation.

o Because of this two-pronged approach to business ownership and because of the limitations of conventional accounting, consolidated reported earnings may reveal relatively little about our true economic performance. Charlie and I, both as owners and managers, virtually ignore such consolidated numbers. However, we will also report to you the earnings of each major business we control, numbers we consider of great importance. These figures, along with other information we will supply about the individual businesses, should generally aid you in making judgments about them.

Dịch: o Chúng tôi ưu tiên đạt mục tiêu này bằng cách sở hữu trực tiếp một nhóm đa dạng các doanh nghiệp tạo ra tiền mặt và đều đặn đạt được mức lợi nhuận trên vốn cao hơn trung bình. Lựa chọn thứ hai của chúng tôi là sở hữu một phần các doanh nghiệp tương tự, đạt được chủ yếu bằng việc mua cổ phiếu phổ thông dễ giao dịch, thông qua các công ty con bảo hiểm của chúng ta. Giá cả và sự sẵn có của các doanh nghiệp, cùng với nhu cầu về vốn bảo hiểm, sẽ quyết định việc phân bổ vốn trong mỗi năm.

o Bởi vì phương pháp tiếp cận kép đối với sở hữu doanh nghiệp này và do những hạn chế của quy ước kế toán, lợi nhuận báo cáo hợp nhất có thể hé lộ tương đối ít về thành quả kinh tế thực sự của chúng ta. Charlie và tôi, với tư cách là cả chủ sở hữu và quản lý, hầu như bỏ qua các con số hợp nhất này. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ báo cáo cho quý vị lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp lớn mà chúng ta kiểm soát, những con số mà chúng tôi coi là rất quan trọng. Những số liệu này, cùng với thông tin khác mà chúng tôi sẽ cung cấp về các doanh nghiệp riêng lẻ, sẽ tổng quát giúp quý vị đưa ra nhận định về chúng.

o Accounting consequences do not influence our operating or capital-allocation decisions. When acquisition costs are similar, we much prefer to purchase $2 of earnings that is not reportable by us under standard accounting principles than to purchase $1 of earnings that is reportable. This is precisely the choice that often faces us since entire businesses (whose earnings will be fully reportable) frequently sell for double the pro-rata price of small portions (whose earnings will be largely unreportable). In aggregate and over time, we expect the unreported earnings to be fully reflected in our intrinsic business value through capital gains.

Dịch: o Hậu quả về kế toán không ảnh hưởng đến các quyết định vận hành hoặc phân bổ vốn của chúng tôi. Khi chi phí mua lại tương đương nhau, chúng tôi thà mua 2 đô lợi nhuận mà không được báo cáo theo nguyên tắc kế toán tiêu chuẩn, hơn mua 1 đô lợi nhuận có thể báo cáo được. Đây chính là sự lựa chọn mà chúng tôi thường phải đối mặt, vì các doanh nghiệp nguyên khối (với lợi nhuận sẽ được báo cáo đầy đủ) thường được bán với giá gấp đôi so với giá  mua lẻ của các phần nhỏ tương ứng (với lợi nhuận đa phần sẽ không thể báo cáo). Tổng thể và theo thời gian, chúng tôi kỳ vọng rằng lợi nhuận không báo cáo sẽ được phản ánh đầy đủ trong giá trị kinh doanh nội tại của chúng ta thông qua lãi vốn.

Bình luận: các hậu quả kế toán (tiêu cực) mà Buffett nhắc ở trên, đã được ông diễn giải chi tiết ở thư gửi cổ đông năm 1980.

o We rarely use much debt and, when we do, we attempt to structure it on a long-term fixed rate basis. We will reject interesting opportunities rather than over-leverage our balance sheet. This conservatism has penalized our results but it is the only behavior that leaves us comfortable, considering our fiduciary obligations to policyholders, depositors, lenders and the many equity holders who have committed unusually large portions of their net worth to our care.

Dịch: o Chúng tôi hiếm khi sử dụng nhiều nợ và, khi có, chúng tôi cố gắng cấu trúc nó trên cơ sở lãi suất cố định dài hạn. Chúng tôi sẽ thà từ chối các cơ hội hấp dẫn, hơn là dùng đòn bẩy quá mức với bảng cân đối kế toán của mình. Chủ nghĩa bảo thủ này đã cản trở kết quả của chúng ta, nhưng đây là cách duy nhất khiến chúng tôi cảm thấy thoải mái, xét đến các nghĩa vụ được ủy thác bởi người mua bảo hiểm, người gửi tiền, người cho vay và nhiều cổ đông đã cam kết một phần lớn khác thường của lượng tài sản ròng của họ cho sự quản lý của chúng tôi.

• Bình luận: hiện không hiếm công ty môi giới chứng khoán khuyến khích nhà đầu tư vay nợ (gọi mỹ miều là đòn bẩy tài chính) để giao dịch chứng khoán. Các bên cung cấp dịch vụ vay nợ thường chỉ quảng bá về lợi nhuận có thể, và tiện thể quên nhắc đến những rủi ro chắc chắn kèm theo. Về bản chất thì nợ là một công cụ và nó có lợi hay hại là phụ thuộc vào người sử dụng. Tuy nhiên, như hiệu ứng Dunning–Kruger miêu tả, những người ít sẵn sàng sử dụng nó nhất nhất lại là những người sẵn lòng dùng nó nhất. Buffett rất thận trọng với vay nợ; nhưng hai thứ giúp hạn chế rủi ro vay nợ ông nói ở đây là: chốt lãi suất vay cố định (thay vì thả nổi) và thời gian dài hạn:

Thời gian phải trả hết nợ dài hạn cho phép người đi vay thư thả hơn. Nhưng cái gì có lợi với người đi vay thì sẽ là bất lợi của người cho vay. Nên để đổi lại, người cho vay sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn (so với vay ngắn hạn).

Việc cố định lãi suất sẽ giúp người đi vay loại bỏ rủi ro biến động lãi suất trong tương lai. Dĩ nhiên làm thế sẽ loại bỏ khả năng lãi vay thả nổi tương lai thấp hơn hiện tại. Nhưng nhìn chung thì việc cố định lãi suất vẫn có lợi hơn, mặc cho khả năng lãi suất tương lai tăng hay giảm khôn lường. Bởi vì lợi ích khi lãi giảm là có hạn (lãi vay dù có giảm đến đâu cũng sẽ luôn lớn hơn 0), còn thiệt hại khi lãi tăng lại không có giới hạn (không có giới hạn trần lãi suất). Và dù việc sinh lời tương lai từ cơ hội đầu tư (mà tiền vay sẽ được dùng vào) có thể vẫn chưa chắc chắn, nhưng bài toán với một biến (khả năng sinh lời) luôn dễ giải hơn bài toàn có hai biến (khả năng sinh lời và chi phí vay phải trả).

o A managerial “wish list” will not be filled at shareholder expense. We will not diversify by purchasing entire businesses at control prices that ignore long-term economic consequences to our shareholders. We will only do with your money what we would do with our own, weighing fully the values you can obtain by diversifying your own portfolios through direct purchases in the stock market.

o We feel noble intentions should be checked periodically against results. We test the wisdom of retaining earnings by assessing whether retention, over time, delivers shareholders at least $1 of market value for each $1 retained. To date, this test has been met. We will continue to apply it on a five-year rolling basis. As our net worth grows, it is more difficult to use retained earnings wisely.

Dịch: o “Danh sách điều ước” của quản lý sẽ không được thực hiện với tiền của cổ đông. Chúng tôi sẽ không đa dạng hóa bằng việc mua toàn bộ doanh nghiệp, ở mức giá kiểm soát mà sẽ bỏ mặc hậu quả kinh tế dài hạn đối với cổ đông của mình. Chúng tôi sẽ chỉ làm với tiền của quý vị những gì chúng tôi sẽ làm với chính tiền của mình, cân nhắc đầy đủ những giá trị mà quý vị có thể đạt được bằng cách tự đa dạng hóa danh mục đầu tư của bản thân thông qua việc trực tiếp mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

o Chúng tôi cảm thấy những ý định cao thượng cần được đối chiếu định kỳ với kết quả. Chúng tôi kiểm chứng sự sáng suốt của việc giữ lại lợi nhuận bằng cách đánh giá liệu việc giữ lại lợi nhuận, theo thời gian, có mang lại cho cổ đông ít nhất 1 đô la giá trị thị trường cho mỗi 1 đô la giữ lại hay không. Cho đến nay, bài kiểm tra này đã được vượt qua. Chúng tôi sẽ tiếp tục kiểm tra nó theo chu kỳ cuốn chiếu năm năm một lần. Khi giá trị tài sản ròng của chúng ta tăng lên, việc sử dụng lợi nhuận giữ lại một cách khôn ngoan sẽ trở nên khó khăn hơn.

o We will issue common stock only when we receive as much in business value as we give. This rule applies to all forms of issuance – not only mergers or public stock offerings, but stock for-debt swaps, stock options, and convertible securities as well. We will not sell small portions of your company – and that is what the issuance of shares amounts to – on a basis inconsistent with the value of the entire enterprise.

o You should be fully aware of one attitude Charlie and I share that hurts our financial performance: regardless of price, we have no interest at all in selling any good businesses that Berkshire owns, and are very reluctant to sell sub-par businesses as long as we expect them to generate at least some cash and as long as we feel good about their managers and labor relations. We hope not to repeat the capital-allocation mistakes that led us into such sub-par businesses. And we react with great caution to suggestions that our poor businesses can be restored to satisfactory profitability by major capital expenditures. (The projections will be dazzling – the advocates will be sincere – but, in the end, major additional investment in a terrible industry usually is about as rewarding as struggling in quicksand.) Nevertheless, gin rummy managerial behavior (discard your least promising business at each turn) is not our style. We would rather have our overall results penalized a bit than engage in it.

Dịch: o Chúng tôi sẽ chỉ phát hành cổ phiếu phổ thông khi chúng ta nhận lại được mức giá trị doanh nghiệp bằng với mức chúng ta cho đi. Quy tắc này áp dụng với mọi các hình thức phát hành – không chỉ cho sáp nhập hoặc chào bán cổ phiếu công khai, mà còn cả cho hoán đổi cổ phiếu lấy nợ, quyền chọn cổ phiếu và chứng khoán chuyển đổi. Chúng tôi sẽ không bán những phần nhỏ của công ty quý vị – và việc phát hành cổ phiếu chính là như thế – dựa trên cơ sở không nhất quán với giá trị của toàn bộ doanh nghiệp.

o Quý vị nên biết rõ về một thái độ Charlie và tôi cùng chia sẻ, mà có gây hại cho thành quả tài chính của chúng ta: bất kể giá nào, chúng tôi hoàn toàn không quan tâm đến việc bán bất kỳ doanh nghiệp tốt nào mà Berkshire đang sở hữu, và rất miễn cưỡng bán các doanh nghiệp dưới trung bình, chừng nào chúng tôi còn kỳ vọng chúng vẫn có thể tạo ra ít nhất một chút tiền mặt và chúng tôi cảm thấy hài lòng với các quản lý và các mối quan hệ với lao động. Chúng tôi hy vọng sẽ không mắc lại những sai lầm trong phân bổ vốn mà đã dẫn chúng tôi vào những doanh nghiệp dưới trung bình đó. Và chúng tôi phản ứng hết sức thận trọng với những đề xuất rằng những doanh nghiệp yếu kém của chúng ta có thể được hồi phục với mức lợi nhuận thỏa đáng nhờ vào những khoản chi tiêu vốn lớn. (Những dự báo sẽ rất ấn tượng – những người ủng hộ sẽ rất chân thành – nhưng, cuối cùng, việc đầu tư bổ xung lớn vào một ngành công nghiệp tệ hại, thường có kết quả ngang với việc vùng vẫy trong cát lún.) Tuy nhiên, quản lý kiểu chơi bài “gin rummy” (vứt bỏ lá bài doanh nghiệp ít hứa hẹn nhất mỗi lượt chơi) không phải là phong cách của chúng tôi. Chúng tôi thà để kết quả tổng thể của mình bị trừ chút điểm còn hơn là làm việc đó.

o We will be candid in our reporting to you, emphasizing the pluses and minuses important in appraising business value. Our guideline is to tell you the business facts that we would want to know if our positions were reversed. We owe you no less. Moreover, as a company with a major communications business, it would be inexcusable for us to apply lesser standards of accuracy, balance and incisiveness when reporting on ourselves than we would expect our news people to apply when reporting on others. We also believe candor benefits us as managers: the CEO who misleads others in public may eventually mislead himself in private.

o Despite our policy of candor, we will discuss our activities in marketable securities only to the extent legally required. Good investment ideas are rare, valuable and subject to competitive appropriation just as good product or business acquisition ideas are. Therefore, we normally will not talk about our investment ideas. This ban extends even to securities we have sold (because we may purchase them again) and to stocks we are incorrectly rumored to be buying. If we deny those reports but say “no comment” on other occasions, the no-comments become confirmation.

Dịch: o Chúng tôi sẽ thẳng thắn trong việc báo cáo với quý vị, nhấn mạnh các điểm cộng và điểm trừ quan trọng trong việc đánh giá giá trị doanh nghiệp. Nguyên tắc của chúng tôi là cung cấp cho quý vị những thực tế về doanh nghiệp mà chúng tôi muốn biết nếu vị trí của chúng ta được hoán đổi. Đây là trách nhiệm tối thiểu của chúng tôi với quý vị. Hơn nữa, là một công ty với mảng kinh doanh truyền thông lớn, nó là không thể biện hộ được, nếu chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn về độ chính xác, cân bằng và sắc bén khi báo cáo về bản thân, thấp hơn so với những gì chúng tôi chờ đợi các phóng viên của mình sẽ áp dụng khi báo cáo về người khác. Chúng tôi tin rằng sự thẳng thắn cũng có lợi cho chúng tôi với tư cách là quản lý: người CEO mà lừa dối người khác ở bên ngoài, có thể cuối cùng sẽ tự lừa dối chính mình ở bên trong.

o Bất chấp chính sách thẳng thắn đó, chúng tôi sẽ chỉ bàn về các hoạt động liên quan tới chứng khoán có thể giao dịch của mình ở mức mà pháp luật yêu cầu. Ý tưởng đầu tư tốt là hiếm có, đáng giá và dễ bị đối thủ chiếm đoạt, giống như ý tưởng hay về sản phẩm hoặc thâu tóm doanh nghiệp. Vì vậy, chúng tôi thường sẽ không nói về các ý tưởng đầu tư của mình. Lệnh cấm này áp dụng cả với các chứng khoán chúng tôi đã bán (vì chúng tôi có thể sẽ mua lại chúng) và cổ phiếu bị đồn thổi sai là chúng tôi đang mua. Nếu chúng tôi phủ nhận những báo cáo đó nhưng lại bảo “miễn bình luận” trong các trường hợp khác, thì câu “miễn bình luận” sẽ trở thành sự xác nhận.

Last year, in discussing how managers with bright, but adrenalin-soaked minds scramble after foolish acquisitions, I quoted Pascal: “It has struck me that all the misfortunes of men spring from the single cause that they are unable to stay quietly in one room.”

Even Pascal would have left the room for Mrs. Blumkin.

Dịch: Năm ngoái, khi bàn về việc các quản lý với những bộ óc thông minh nhưng ngấm chìm trong adrenaline, tranh giành nhau những vụ mua lại khờ dài, tôi đã trích dẫn Pascal: “Tôi nhận thấy rằng mọi bất hạnh của con người đều xuất phát từ một nguyên nhân duy nhất là họ không thể ngồi im trong phòng.”

Ngay cả Pascal cũng sẽ ra khỏi phòng vì bà Blumkin.

About 67 years ago Mrs. Blumkin, then 23, talked her way past a border guard to leave Russia for America. She had no formal education, not even at the grammar school level, and knew no English. After some years in this country, she learned the language when her older daughter taught her, every evening, the words she had learned in school during the day.

In 1937, after many years of selling used clothing, Mrs. Blumkin had saved $500 with which to realize her dream of opening a furniture store. Upon seeing the American Furniture Mart in Chicago – then the center of the nation’s wholesale furniture activity – she decided to christen her dream Nebraska Furniture Mart.

Dịch: Khoảng 67 năm trước, bà Blumkin, khi đó mới 23 tuổi, đã thuyết phục lính biên phòng cho bà rời khỏi nước Nga để sang Mỹ. Bà không được giáo dục chính quy, dù chỉ là tiểu học, và không biết chút tiếng Anh nào. Sau một vài năm ở đất nước này, bà đã học tiếng nhờ việc được con gái lớn của mình dạy cho bà mỗi buổi tối, những từ mà cô bé ấy đã học ở trường ban ngày.

Vào năm 1937, sau nhiều năm bán quần áo cũ, bà Blumkin đã tiết kiệm được 500 đô la và dùng nó để thực hiện ước mơ mở cửa hàng bán đồ nội thất của mình. Sau khi thấy American Furniture Mart (Chợ Nội Thất Mỹ) ở Chicago – khi đó là trung tâm của hoạt động bán buôn đồ nội thất cả nước – bà đã quyết định đặt tên cho ước mơ của mình là Nebraska Furniture Mart (Chợ Nội Thất Nebraska).

She met every obstacle you would expect (and a few you wouldn’t) when a business endowed with only $500 and no locational or product advantage goes up against rich, long- entrenched competition. At one early point, when her tiny resources ran out, “Mrs. B” (a personal trademark now as well recognized in Greater Omaha as Coca-Cola or Sanka) coped in a way not taught at business schools: she simply sold the furniture and appliances from her home in order to pay creditors precisely as promised.

Omaha retailers began to recognize that Mrs. B would offer customers far better deals than they had been giving, and they pressured furniture and carpet manufacturers not to sell to her. But by various strategies she obtained merchandise and cut prices sharply. Mrs. B was then hauled into court for violation of Fair Trade laws. She not only won all the cases, but received invaluable publicity. At the end of one case, after demonstrating to the court that she could profitably sell carpet at a huge discount from the prevailing price, she sold the judge $1400 worth of carpet.

Dịch: Bà đã gặp phải mọi trở ngại mà quý vị có thể lường trước (và một số trở ngại quý vị cũng không ngờ tới) khi một doanh nghiệp với vẻn vẹn 500 đô la và không có lợi thế về vị trí hay sản phẩm, phải đối đầu với những đối thủ giàu có và đã bám rễ lâu năm. Ở giai đoạn đầu, khi nguồn vốn ít ỏi của bà cạn kiệt, “Mrs. B” (một thương hiệu cá nhân mà nay đã được nhận diện rộng rãi trong vùng Đại Omaha chẳng kém gì Coca-Cola hay Sanka) đã xoay xở theo cách không hề được dạy ở các trường kinh doanh: bà đơn giản là đã bán chính nội thất và thiết bị trong nhà để lấy tiền trả các chủ nợ đúng như hẹn đã hứa.

Các công ty bán lẻ ở Omaha bắt đầu nhận thấy rằng Mrs. B đưa cho khách hàng những chào mời tốt hơn nhiều so với những gì họ đang làm, và họ gây sức ép lên các công ty sản xuất đồ nội thất và thảm để không bán hàng cho bà. Tuy nhiên, bằng nhiều chiến lược khác nhau, bà vẫn kiếm được nguồn hàng và cắt giá bán mạnh tay. Mrs. B sau đó đã bị lôi ra tòa vì bị cáo buộc vi phạm luật Thương mại Công bằng. Bà không chỉ thắng tất cả các đơn kiện, mà còn nhận được sự quảng bá vô giá. Ở một phiên tòa lúc kết thúc, sau khi chứng minh trước tòa rằng bà có thể bán thảm có lời dù với mức chiết khấu rất lớn so với giá thị trường, bà đã bán cho chính vị thẩm phán một lượng thảm trị giá 1.400 đô.

• Bình luận: việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn mục đích là để bảo vệ tài sản cá nhân của chủ công ty khỏi nợ của công ty. Nhưng việc Mrs B bán tài sản cá nhân của gia đình để trả nợ của cửa hàng lại hoàn toàn ngược lại logic trên. Có lẽ vì với bà, cửa hàng đó không chỉ là vấn đề tài sản vật chất mà còn cả là giá trị tinh thần, uy tín cá nhân… hay nói một cách khác là Mrs B có nhiều da thịt trong cuộc chơi (skin in the game) hơn những quản lý học trong các trường kinh doanh (mà đa số sẽ đi làm quản lý thuê sau khi tốt nghiệp). Khi đối diện với một vấn đề khó, các quản lý làm thuê có thể sẽ gặp trường hợp là, dù được đào tạo kỹ năng, kiến thức và nghĩ ra được giải pháp, nhưng chưa chắc họ đã dám làm. Ngược lại, với những doanh nhân tự làm chủ như Mrs B thì dù có thể chưa có kiến thức, kỹ năng, nhưng họ lại có động lực để suy nghĩ, học hỏi, mày mò bất kể ngày đêm, để tìm ra, và quan trọng hơn là dám thực hiện, giải pháp.

One question I always ask myself in appraising a business is how I would like, assuming I had ample capital and skilled personnel, to compete with it. I’d rather wrestle grizzlies than compete with Mrs. B and her progeny. They buy brilliantly, they operate at expense ratios competitors don’t even dream about, and they then pass on to their customers much of the savings. It’s the ideal business – one built upon exceptional value to the customer that in turn translates into exceptional economics for its owners.

Mrs. B is wise as well as smart and, for far-sighted family reasons, was willing to sell the business last year. I had admired both the family and the business for decades, and a deal was quickly made. But Mrs. B, now 90, is not one to go home and risk, as she puts it, “losing her marbles”. She remains Chairman and is on the sales floor seven days a week. Carpet sales are her specialty. She personally sells quantities that would be a good departmental total for other carpet retailers.

Dịch: Một câu mà tôi luôn tự hỏi khi đánh giá một doanh nghiệp là tôi sẽ làm thế nào, giả sử mình có nhiều vốn và đội ngũ nhân sự giỏi, để cạnh tranh với doanh nghiệp đó. Tôi thà vật nhau với gấu xám còn hơn là phải cạnh tranh với Mrs B và con cháu của bà. Họ xuất sắc trong thu mua, vận hành ở tỷ lệ chi phí mà đối thủ còn không dám mơ tới, và rồi họ truyền cho khách hàng phần lớn khoản tiết kiệm đó. Đó là doanh nghiệp lý tưởng – một doanh nghiệp được xây dựng  dựa trên việc mang lại giá trị phi thường cho khách hàng, và từ đó chuyển hóa thành hiệu quả kinh tế phi thường cho các chủ sở hữu.

Mrs B vừa khôn ngoan vừa thông minh và, vì những lý do gia đình nhìn xa trông rộng sau này, đã bằng lòng bán lại doanh nghiệp vào năm ngoái. Tôi đã ngưỡng mộ cả gia đình bà lẫn doanh nghiệp suốt nhiều thập kỷ, và thỏa thuận đã nhanh chóng được chốt lại. Nhưng bà B, nay đã 90 tuổi, không phải tuýp người sẽ về nghỉ hưu ở nhà và để rủi bị, theo cách bà nói, “đầu óc lú lẫn”. Bà vẫn giữ chức Chủ tịch và có mặt tại sàn bán hàng bảy ngày một tuần. Bán thảm là chuyên môn của bà. Mình bà bán khối lượng bằng cả phòng kinh doanh của các cửa hàng bán lẻ thảm khác.

• Bình luận: như Buffett đã nói nhiều lần ở các bức thư thường niên trước, các quản lý (vốn là chủ cũ) các công ty ông thâu tóm, dù ở tuổi thượng thọ, nhưng vẫn tiếp tục điều hành công ty cho Buffett. Và lý do họ tiếp tục làm không phải vì tài chính. Thậm chí Buffett còn coi việc quản lý muốn phủi tay nghỉ hưu ngay sau khi bán công ty là một dấu hiệu cờ đỏ (một số lý do có thể là sẽ khó tìm người thay thế, hoặc đấy là dấu hiệu công ty sẽ gặp khó khăn trong tương lại). Ở trường hợp Mrs B thì sau này khi bị con cháu ép nghỉ hưu, bà đã mở một cửa hàng mới để cạnh tranh với chính cửa hàng cũ mà con cháu đang quản lý (sau đó Buffett cũng đã phải mua lại cửa hàng mới này và yêu cầu Mrs B ký thỏa thuận chống cạnh tranh).

We purchased 90% of the business – leaving 10% with members of the family who are involved in management – and have optioned 10% to certain key young family managers.

And what managers they are. Geneticists should do handsprings over the Blumkin family. Louie Blumkin, Mrs. B’s son, has been President of Nebraska Furniture Mart for many years and is widely regarded as the shrewdest buyer of furniture and appliances in the country. Louie says he had the best teacher, and Mrs. B says she had the best student. They’re both right. Louie and his three sons all have the Blumkin business ability, work ethic, and, most important, character. On top of that, they are really nice people. We are delighted to be in partnership with them.

Dịch: Chúng tôi đã mua 90% doanh nghiệp – để lại 10% cho các thành viên trong gia đình đang tham gia quản lý – và dành quyền chọn mua 10% cho một số nhà quản lý trẻ chủ chốt trong gia đình.

Và họ đúng là những quản lý xuất sắc. Các nhà di truyền học hẳn sẽ phải nhảy cẫng lên khi nghiên cứu gia đình Blumkin. Louie Blumkin, con trai Mrs B, đã giữ chức giám đốc Nebraska Furniture Mart trong nhiều năm và được công nhận rộng rãi là người thu mua nội thất và thiết bị gia dụng sắc sảo nhất nước. Louie bảo là ông có người thầy tốt nhất, còn Mrs B bảo là bà có người học trò tốt nhất. Cả hai đều đúng. Louie và ba người con trai của ông đều thừa hưởng năng lực kinh doanh của nhà Blumkin, đạo đức công việc và, quan trọng nhất, phẩm cách. Thêm vào đó, họ là những người thực sự tốt. Chúng tôi rất vui khi được hợp tác cùng họ.

• Bình luận: cả hai từ “chairman” và “president” trong tiếng Việt đều dịch là chủ tịch. Nhưng trong ngữ cảnh này là về một công ty không trên sàn của Mỹ thì mình dịch chairman (Mrs B) là chủ tịch (hội đồng quản trị) và president (Louie, con của bà) là giám đốc (tức CEO). Tìm hiểu thêm về các chức danh trong các doanh nghiệp Mỹ và quyền hành của chúng ở đây.

During 1983 our book value increased from $737.43 per share to $975.83 per share, or by 32%. We never take the one-year figure very seriously. After all, why should the time required for a planet to circle the sun synchronize precisely with the time required for business actions to pay off? Instead, we recommend not less than a five-year test as a rough yardstick of economic performance. Red lights should start flashing if the five-year average annual gain falls much below the return on equity earned over the period by American industry in aggregate. (Watch out for our explanation if that occurs as Goethe observed, “When ideas fail, words come in very handy.”)

During the 19-year tenure of present management, book value has grown from $19.46 per share to $975.83, or 22.6% compounded annually. Considering our present size, nothing close to this rate of return can be sustained. Those who believe otherwise should pursue a career in sales, but avoid one in mathematics.

Dịch: Trong năm 1983, giá trị sổ sách của chúng ta đã tăng từ 737,43 đô trên mỗi cổ phiếu lên 975,83 đô, tức tăng 32%. Chúng tôi không bao giờ coi trọng số liệu một năm. Suy cho cùng, tại sao khoảng thời gian để một hành tinh quay một vòng quanh mặt trời lại phải đồng bộ chính xác với khoảng thời gian cần thiết để các hoạt động kinh doanh mang lại kết quả? Thay vào đó, chúng tôi đề xuất một kiểm định tối thiểu năm năm làm thước đo tương đối về hiệu quả kinh tế. Đèn báo động đỏ nên bắt đầu nháy  sáng, nếu mức trung bình cộng của tăng trưởng hàng năm trong năm năm, giảm xuống thấp hơn nhiều, so với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của toàn ngành công nghiệp Mỹ đạt được trong cùng giai đoạn. (Hãy dè chừng với lời giải thích của chúng tôi nếu nó xảy ra, vì như Goethe đã quan sát: “Khi ý tưởng thất bại, lời nói sẽ trở nên rất hữu dụng.”)

Trong 19 năm đương nhiệm của ban quản lý hiện tại, giá trị sổ sách đã tăng từ 19,46 đô mỗi cổ phiếu lên 975,83 đô, tức tăng trưởng kép 22,6% mỗi năm. Xem xét quy mô hiện tại của chúng ta, thì không có gì ở gần mức tỷ suất lợi nhuận này mà có thể duy trì mãi. Những ai tin vào điều ngược lại nên theo đuổi sự nghiệp bán hàng, nhưng hãy tránh xa toán học.

We report our progress in terms of book value because in our case (though not, by any means, in all cases) it is a conservative but reasonably adequate proxy for growth in intrinsic business value – the measurement that really counts. Book value’s virtue as a score-keeping measure is that it is easy to calculate and doesn’t involve the subjective (but important) judgments employed in calculation of intrinsic business value. It is important to understand, however, that the two terms – book value and intrinsic business value – have very different meanings.

Dịch: Chúng tôi báo cáo tiến triển của mình dựa trên giá trị sổ sách vì trong trường hợp của chúng ta (dù hoàn toàn không phải trong mọi trường hợp), đây là một thước đo thận trọng nhưng vừa đủ để đại diện cho sự tăng trưởng của giá trị kinh doanh nội tại – thước đo mà mới thật sự quan trọng. Ưu điểm của giá trị sổ sách trong vai trò là một thước đo tính điểm là nó dễ tính toán và không dùng đến những đánh giá chủ quan (nhưng quan trọng) vốn được sử dụng khi ước lượng giá trị kinh doanh nội tại. Tuy nhiên, điều quan trọng cần hiểu là hai thuật ngữ này – giá trị sổ sách và giá trị kinh doanh nội tại – có ý nghĩa rất khác nhau.

Book value is an accounting concept, recording the accumulated financial input from both contributed capital and retained earnings. Intrinsic business value is an economic concept, estimating future cash output discounted to present value. Book value tells you what has been put in; intrinsic business value estimates what can be taken out.

An analogy will suggest the difference. Assume you spend identical amounts putting each of two children through college. The book value (measured by financial input) of each child’s education would be the same. But the present value of the future payoff (the intrinsic business value) might vary enormously – from zero to many times the cost of the education. So, also, do businesses having equal financial input end up with wide variations in value.

Dịch: Giá trị sổ sách là một khái niệm kế toán, ghi nhận nguồn lực tài chính đầu vào được tích lũy bởi cả vốn đóng góp lẫn lợi nhuận giữ lại. Giá trị kinh doanh nội tại là một khái niệm kinh tế, ước tính dòng tiền tạo ra trong tương lai và chiết khấu về giá trị hiện tại. Giá trị sổ sách cho quý vị biết những gì đã được bỏ vào; giá trị kinh doanh nội tại ước tính những gì có thể lấy ra.

So sánh sau đây sẽ làm rõ sự khác biệt này. Giả sử quý vị chi hai khoản tiền bằng nhau để cho hai đứa con học đại học. Giá trị sổ sách (đo lường bằng chi phí tài chính bỏ vào) cho việc giáo dục của mỗi đứa con là như nhau. Nhưng giá trị hiện tại của các khoản thu nhập trong tương lai (giá trị kinh doanh nội tại) có thể khác biệt rất lớn – từ số không cho đến gấp nhiều lần chi phí học tập. Cũng như vậy, các doanh nghiệp dù cùng một lượng tài chính đầu vào, sẽ trả ra những giá trị với biên giao động lớn.

At Berkshire, at the beginning of fiscal 1965 when the present management took over, the $19.46 per share book value considerably overstated intrinsic business value. All of that book value consisted of textile assets that could not earn, on average, anything close to an appropriate rate of return. In the terms of our analogy, the investment in textile assets resembled investment in a largely-wasted education.

Now, however, our intrinsic business value considerably exceeds book value. There are two major reasons:

(1) Standard accounting principles require that common stocks held by our insurance subsidiaries be stated on our books at market value, but that other stocks we own be carried at the lower of aggregate cost or market. At the end of 1983, the market value of this latter group exceeded carrying value by $70 million pre-tax, or about $50 million after tax. This excess belongs in our intrinsic business value, but is not included in the calculation of book value;

(2) More important, we own several businesses that possess economic Goodwill (which is properly includable in intrinsic business value) far larger than the accounting Goodwill that is carried on our balance sheet and reflected in book value.

Goodwill, both economic and accounting, is an arcane subject and requires more explanation than is appropriate here. The appendix that follows this letter – “Goodwill and its Amortization: The Rules and The Realities” – explains why economic and accounting Goodwill can, and usually do, differ enormously.

Dịch: Tại Berkshire, vào đầu năm tài chính 1965 khi ban quản lý hiện tại nhận tiếp quản, giá trị sổ sách 19,46 đô trên mỗi cổ phiếu lúc đó là phóng đại đáng kể giá trị kinh doanh nội tại. Toàn bộ giá trị sổ sách đó, bao gồm các tài sản ngành dệt may, không thể kiếm gần bằng mức tỷ suất lợi nhuận trung bình thỏa đáng. Nếu nói như so sánh trên của chúng tôi, thì việc đầu tư vào các tài sản dệt may giống như việc lãng phí tiền học.

Tuy nhiên, hiện nay giá trị kinh doanh nội tại của chúng ta vượt giá trị sổ sách một cách đáng kể. Có hai lý do chính:

(1) Các nguyên tắc kế toán tiêu chuẩn yêu cầu các cổ phiếu phổ thông do các công ty con bảo hiểm của chúng ta nắm giữ, phải được ghi nhận trên sổ sách theo giá thị trường, nhưng các cổ phiếu khác mà chúng ta sở hữu lại được ghi nhận theo giá thấp hơn giữa giá thị trường và giá mua tổng hợp. Vào cuối năm 1983, giá trị thị trường của nhóm cổ phiếu thứ hai này đã vượt giá trị ghi sổ 70 triệu đô trước thuế, tương đương khoảng 50 triệu đô sau thuế. Phần thặng dư này thuộc về giá trị kinh doanh nội tại của chúng ta, nhưng không được bao gồm trong việc tính toán giá trị sổ sách;

(2) Quan trọng hơn, chúng tôi sở hữu một số doanh nghiệp có “goodwill” kinh tế (cái mà hoàn toàn hợp lý khi thêm vào giá trị kinh doanh nội tại) lớn hơn nhiều so với “goodwill” kế toán được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán và phản ánh trong giá trị sổ sách.

“Goodwill”, cả về mặt kinh tế và kế toán, là một chủ đề bí ẩn và cần nhiều sự giải thích hơn mức phù hợp ở đây. Phụ lục đi kèm lá thư này – “Goodwill và khấu hao nó: Quy định và Thực tế” – giải thích tại sao “goodwill” kinh tế và kế toán có thể, và thường xuyên, khác nhau rất nhiều.

•  Bình luận: trong kế toán thì “goodwill” (dịch đơn thuần là thiện chí), còn được gọi dài hơn là “excess of cost over the fair value of net assets acquired” (chi phí vượt quá giá trị hợp lý của tài sản ròng được mua lại), hiện hay được dịch là “lợi thế thương mại”. Mình không đồng ý với cách dịch này, và giữ nguyên từ gốc tiếng Anh “goodwill”. Hãy đọc tiếp phần phụ lục ở dưới Buffett giải thích về “goodwill” để hiểu rõ hơn.

You can live a full and rewarding life without ever thinking about Goodwill and its amortization. But students of investment and management should understand the nuances of the subject. My own thinking has changed drastically from 35 years ago when I was taught to favor tangible assets and to shun businesses whose value depended largely upon economic Goodwill. This bias caused me to make many important business mistakes of omission, although relatively few of commission.

Keynes identified my problem: “The difficulty lies not in the new ideas but in escaping from the old ones.” My escape was long delayed, in part because most of what I had been taught by the same teacher had been (and continues to be) so extraordinarily valuable. Ultimately, business experience, direct and vicarious, produced my present strong preference for businesses that possess large amounts of enduring Goodwill and that utilize a minimum of tangible assets.

Dịch: Quý vị có thể sống cả đời hạnh phúc mà không bao giờ cần bận tâm đến “goodwill” và sự khấu hao của nó. Tuy nhiên, những người nghiên cứu về đầu tư và quản trị nên hiểu rõ những khác biệt trong chủ đề này. Tư duy của chính tôi đã thay đổi rõ rệt so với 35 năm trước, khi tôi được dạy rằng nên ưu tiên các tài sản hữu hình và tránh xa những doanh nghiệp mà giá trị phụ thuộc phần lớn vào “goodwill” kinh tế. Định kiến này đã khiến tôi phạm nhiều sai lầm kinh doanh quan trọng khi quyết định không hành động, dù tương đối ít quyết định hành động mà bị sai.

Keynes đã chỉ ra vấn đề của tôi: “Khó khăn không nằm ở những ý tưởng mới, mà ở việc thoát khỏi những ý tưởng cũ.” Sự thoát khỏi của tôi đã bị trì hoãn lâu hơn dự kiến, một phần vì hầu hết những gì tôi được dạy bởi cùng một người thầy đó đã (và vẫn đang tiếp tục) là cực kỳ giá trị. Cuối cùng, những kinh nghiệm kinh doanh, cả trực tiếp và gián tiếp, đã tạo nên sự ưu tiên mạnh của tôi hiện nay đối với các doanh nghiệp sở hữu một lượng lớn “goodwill” bền vững và sử dụng tối thiểu tài sản hữu hình.

• Bình luận: sự thay đổi về tư duy đầu tư mà Buffett nói ở đây là sự chuyển từ việc tìm kiếm “cigar butt” (mẩu xì gà bị vứt đi) sang tìm kiếm những công ty tuyệt vời ở giá hợp lý. Tuy nhiên điều ông không thay đổi là sự thận trọng, yêu cầu biên độ an toàn (margin of safety); điều mà khiến ông mắc nhiều sai lầm vì đã không hành động, nhưng lại mắc rất ít sai lầm khi đã hành động. Sự thận trọng này về lâu dài đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thành công của Buffett. Bởi vì một khi đã để mất tiền thì để trở về huề số tiền ban đầu, ta sẽ cần phần trăm tăng trưởng lớn hơn phần trăm đã mất:

The special GEICO distribution reported in the table arose when that company made a tender offer for a portion of its stock, buying both from us and other shareholders. At GEICO’s request, we tendered a quantity of shares that kept our ownership percentage the same after the transaction as before. The proportional nature of our sale permitted us to treat the proceeds as a dividend. Unlike individuals, corporations net considerably more when earnings are derived from dividends rather than from capital gains, since the effective Federal income tax rate on dividends is 6.9% versus 28% on capital gains.

Dịch: Khoản phân phối đặc biệt từ GEICO được báo cáo trong bảng, phát sinh khi công ty này thực hiện chào mua lại một phần cổ phiếu của công ty, từ cả chúng ta và các cổ đông khác. Theo yêu cầu của GEICO, chúng tôi đã đồng ý bán một lượng cổ phiếu sao cho tỷ lệ sở hữu của chúng ta sau giao dịch, vẫn được giữ nguyên như trước đó. Đặc tính giữ nguyên tỷ lệ cổ phần tương đương của đợt bán này ,cho phép chúng tôi ghi nhận số tiền thu được như một khoản cổ tức. Khác với cá nhân, các doanh nghiệp nhận được lợi nhuận ròng nhiều hơn đáng kể khi thu nhập có nguồn gốc từ cổ tức, thay vì từ lãi vốn, vì thuế suất thuế thu nhập liên bang của doanh nghiệp áp dụng đối với cổ tức là 6,9% so với mức 28% đối với lãi vốn.

The table showing you our sources of earnings includes dividends from those non-controlled companies whose marketable equity securities we own. But the table does not include earnings those companies have retained that are applicable to our ownership. In aggregate and over time we expect those undistributed earnings to be reflected in market prices and to increase our intrinsic business value on a dollar-for-dollar basis, just as if those earnings had been under our control and reported as part of our profits. That does not mean we expect all of our holdings to behave uniformly; some will disappoint us, others will deliver pleasant surprises. To date our experience has been better than we originally anticipated, In aggregate, we have received far more than a dollar of market value gain for every dollar of earnings retained.

Dịch: Bảng trên thể hiển các nguồn thu nhập của chúng ta, bao gồm cổ tức từ những công ty chúng ta không kiểm soát nhưng có sở hữu chứng khoán niêm yết. Tuy nhiên, bảng này không bao gồm phần lợi nhuận mà các công ty đó giữ lại, tương ứng với tỷ lệ sở hữu của chúng ta. Xét trên tổng thể và theo thời gian, chúng tôi kỳ vọng những khoản lợi nhuận chưa phân phối đó sẽ được phản ánh vào giá thị trường và làm tăng giá trị kinh doanh nội tại của chúng ta theo tỷ lệ một-đổi-một, giống như thể các khoản lợi nhuận đó nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta và được báo cáo là một phần lợi nhuận của chính mình. Điều đó không có nghĩa là chúng tôi kỳ vọng tất cả các danh mục đầu tư đều diễn biến đồng nhất; một số sẽ làm chúng tôi thất vọng, số khác sẽ mang lại những bất ngờ thú vị. Cho đến nay, trải nghiệm của chúng tôi là tốt hơn so với dự tính ban đầu. Xét trên tổng thể, chúng ta đã nhận được mức tăng giá trị thị trường nhiều hơn đáng kể so với mỗi đô la lợi nhuận được giữ lại.

• Bình luận: dù Buffett không quan tâm đến việc lợi nhuận giữ lại của các công ty mà Berkshire không kiểm soát toàn phần, không được ghi nhận đầy đủ trong báo cáo tài chính của Berkshire, nhưng về lâu dài thì Buffett vẫn cần phần lợi nhuận giữ lại đó chuyển hóa thành lợi ích cho Berkshire. Cũng giống như việc các cổ đổng của Berkshire chấp nhận việc trong nhiều thập kỷ công ty đã giữ lại toàn bộ lợi nhuận, vì họ gầm hiểu là mình sẽ nhận được lợi ích, qua viêc trả cổ tức tại một thời điểm trong tương lai, hoặc qua việc cổ phiếu tăng giá. Còn nếu nhà đầu tư không thể hưởng lợi từ lợi nhuận một công ty kiếm được, thì lợi nhuận đó là vô nghĩa với nhà đầu tư.

In 1983 the News somewhat exceeded its targeted profit margin of 10% after tax. Two factors were responsible: (1) a state income tax cost that was subnormal because of a large loss carry-forward, now fully utilized, and (2) a large drop in the per-ton cost of newsprint (an unanticipated fluke that will be reversed in 1984).

Dịch: Năm 1983, báo (Buffalo) News đã vượt mục tiêu biên lợi nhuận sau thuế 10%. Có hai yếu tố dẫn đến kết quả này: (1) thuế thu nhập của bang thấp khác thường nhờ được bù trừ vào một khoản lỗ lớn trước kia được chuyển tiếp (hiện đã được tận dụng hết), và (2) giá in báo trên mỗi tấn giảm mạnh (một sự ăn may bất ngờ mà sẽ bị đảo ngược vào năm 1984).

Although our profit margins in 1983 were about average for newspapers such as the News, the paper’s performance, nevertheless, was a significant achievement considering the economic and retailing environment in Buffalo.

Buffalo has a concentration of heavy industry, a segment of the economy that was hit particularly hard by the recent recession and that has lagged the recovery. As Buffalo consumers have suffered, so also have the paper’s retailing customers. Their numbers have shrunk over the past few years and many of those surviving have cut their linage.

Dịch: Mặc dù tỷ suất lợi nhuận năm 1983 của chúng ta chỉ ở mức trung bình so với các tờ báo có quy mô tương đương tờ News, nhưng những gì tờ báo đạt được vẫn là một thành tựu đáng kể nếu xét đến bối cảnh kinh tế và môi trường bán lẻ tại Buffalo.

Buffalo tập trung nhiều ngành công nghiệp nặng, một lĩnh vực kinh tế bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề bởi cuộc suy thoái gần đây và vẫn đang tụt hậu so với đà phục hồi chung. Khi người tiêu dùng tại Buffalo gặp khó khăn, thì các khách hàng bán lẻ của tờ báo cũng chịu chung số phận. Số lượng các đơn vị này đã sụt giảm trong vài năm qua, và nhiều đơn vị có trụ lại được cũng đã cắt giảm lượng quảng cáo của họ.

We believe a paper’s penetration ratio to be the best measure of the strength of its franchise. Papers with unusually high penetration in the geographical area that is of prime interest to major local retailers, and with relatively little circulation elsewhere, are exceptionally efficient buys for those retailers. Low-penetration papers have a far less compelling message to present to advertisers.

Dịch: Chúng tôi tin rằng tỷ lệ thâm nhập của một tờ báo là thước đo tốt nhất phản ánh sức mạnh của đặc quyền của nó. Những tờ báo có tỷ lệ thâm nhập đặc biệt cao trong khu vực địa lý mà các nhà bán lẻ địa phương lớn quan tâm nhất, và có lượng phát hành tương đối ít ở những khu vực khác, là lựa chọn mua quảng cáo đặc biệt hiệu quả đối với các nhà bán lẻ đó. Ngược lại, những tờ báo có tỷ lệ thâm nhập thấp mang đến một thông điệp kém thuyết phục hơn nhiều cho các nhà quảng cáo.

In our opinion, three factors largely account for the unusual acceptance of the News in the community. Among these, points 2 and 3 also may explain the popularity of the Sunday News compared to that of the Sunday Courier-Express when it was the sole Sunday paper:

(1) The first point has nothing to do with merits of the News. Both emigration and immigration are relatively low in Buffalo. A stable population is more interested and involved in the activities of its community than is a shifting population – and, as a result, is more interested in the content of the local daily paper. Increase the movement in and out of a city and penetration ratios will fall.

(2) The News has a reputation for editorial quality and integrity that was honed by our longtime editor, the legendary Alfred Kirchhofer, and that has been preserved and extended by Murray Light. This reputation was enormously important to our success in establishing a Sunday paper against entrenched competition. And without a Sunday edition, the News would not have survived in the long run.

(3) The News lives up to its name – it delivers a very unusual amount of news. During 1983, our “news hole” (editorial material – not ads) amounted to 50% of the newspaper’s content (excluding preprinted inserts). Among papers that dominate their markets and that are of comparable or larger size, we know of only one whose news hole percentage exceeds that of the News. Comprehensive figures are not available, but a sampling indicates an average percentage in the high 30s. In other words, page for page, our mix gives readers over 25% more news than the typical paper. This news-rich mixture is by intent. Some publishers, pushing for higher profit margins, have cut their news holes during the past decade. We have maintained ours and will continue to do so. Properly written and edited, a full serving of news makes our paper more valuable to the reader and contributes to our unusual penetration ratio.

Dịch: Theo quan điểm của chúng tôi, có ba yếu tố chủ yếu lý giải mức độ chấp nhận đặc biệt của báo (Buffalo) News trong cộng đồng. Trong số này, các điểm (2) và (3) cũng có thể giải thích vì sao ấn phẩm Sunday News (báo chủ nhật) được ưa chuộng hơn so với báo chủ nhật của đối thủ Courier-Express khi họ từng là tờ báo chủ nhật duy nhất:

(1) Điểm thứ nhất không liên quan đến chất lượng nội tại của tờ News. Tại Buffalo, cả tỷ lệ di cư ra đi lẫn nhập cư đều tương đối thấp. Một cộng đồng dân cư ổn định thường quan tâm và gắn bó với các hoạt động của địa phương nhiều hơn so với một cộng đồng thường xuyên biến động – và do đó cũng quan tâm hơn đến nội dung của tờ nhật báo địa phương. Khi mức độ ra vào của dân cư trong một thành phố tăng lên, tỷ lệ thâm nhập của báo chí sẽ giảm.

(2) Tờ News có danh tiếng về chất lượng biên tập và tính chính trực mà đã được tôi luyện bởi vị tổng biên tập lâu năm của chúng ta, huyền thoại Alfred Kirchhofer, rồi được gìn giữ và phát huy bởi Murray Light. Danh tiếng này có vai trò cực kỳ quan trọng trong thành công của chúng ta khi xây dựng một ấn bản chủ nhật để cạnh tranh với các đối thủ đã bám rễ vững chắc. Và nếu không có ấn bản chủ nhật, tờ News sẽ không thể tồn tại về lâu dài.

(3) Tờ News đúng như tên gọi của mình – cung cấp một lượng tin tức nhiều khác thường. Trong năm 1983, “phần tin tức” của chúng ta (tức nội dung biên tập, không bao gồm quảng cáo) chiếm 50% tổng nội dung của tờ báo (không tính các phụ trương in ngoài) Trong số các tờ báo mà thống lĩnh thị trường của chúng, và có quy mô tương đương hoặc lớn hơn, chúng tôi chỉ biết có một tờ báo có tỷ lệ nội dung tin tức cao hơn tờ News. Mặc dù không có số liệu tổng hợp đầy đủ, nhưng một khảo sát lấy mẫu cho thấy tỷ lệ trung bình chỉ ở mức nửa trên của 30%. Nói cách khác, tính theo từng trang, nội dung tổng hợp của chúng ta mang lại cho độc giả nhiều hơn 25% lượng tin tức so với một tờ báo điển hình. Cơ cấu giàu tin tức này là bởi có chủ đích. Trong thập kỷ qua, một số nhà xuất bản, nhằm theo đuổi biên lợi nhuận cao hơn, đã cắt giảm phần nội dung tin tức. Chúng tôi đã duy trì tỷ lệ này và sẽ tiếp tục làm như vậy. Khi được viết và biên tập đúng cách, một lượng tin tức đầy đủ khiến tờ báo của chúng ta trở nên giá trị hơn đối với độc giả và góp phần tạo nên tỷ lệ thâm nhập đặc biệt của tờ News.

• Bình luận: hiện nay thì  báo chí truyền thống gặp rất nhiều khó khăn trong thời đại internet. Nhưng tại thời điểm Buffett viết thì các tờ báo địa phương ở Mỹ thường được hưởng sự độc quyền tự nhiên (natural monopoly). Tức là tại mỗi thành phố, thị trấn, thị trường địa phương thường bị chiếm lĩnh phần lớn bởi một tờ báo lớn và phần nhỏ còn lại bởi 1-2 đối thủ nhỏ. Sự độc quyền tự nhiên này chưa chắc đã cho phép doanh nghiệp tăng giá tùy ý, nhưng nó là rào cản rất lớn đối với đối thủ mới muốn thâm nhập thị trường. Điều này, kèm với việc nhân khẩu (tức khách hàng) ít thay đổi, khiến cho tờ Buffalo News có thể duy trì mức lợi nhuận dù không lớn (khoảng 10%) nhưng rất ổn định; và do đo nhà đầu tư cũng dễ định giá (dòng tiền chiết khấu) hơn rất nhiều. Ngoài ra Buffett cũng rất hứng thú vào các ngành mà sự độc quyền tự nhiên tồn tại như: truyền hình, đường sắt, năng lượng. Tuy nhiên cũng cần nhớ là những ngành như vậy lại có những rủi ro đặc thù như công đoàn mạnh, phải chịu nhiều hơn quản lý của nhà nước và áp lực dư luận…

In recent years See’s has encountered two important problems, at least one of which is well on its way toward solution. That problem concerns costs, except those for raw materials. We have enjoyed a break on raw material costs in recent years though so, of course, have our competitors. One of these days we will get a nasty surprise in the opposite direction. In effect, raw material costs are largely beyond our control since we will, as a matter of course, buy the finest ingredients that we can, regardless of changes in their price levels. We regard product quality as sacred.

But other kinds of costs are more controllable, and it is in this area that we have had problems. On a per-pound basis, our costs (not including those for raw materials) have increased in the last few years at a rate significantly greater than the increase in the general price level. It is vital to our competitive position and profit potential that we reverse this trend.

Dịch: Trong những năm gần đây, See’s đã gặp phải hai vấn đề quan trọng, và ít nhất một trong hai số đó đang trên đà được giải quyết ổn thỏa. Vấn đề đó liên quan đến các chi phí, ngoại trừ chi phí nguyên liệu thô. Những năm qua, chúng ta đã được hưởng lợi từ việc giá nguyên liệu thô giảm, tuy nhiên các đối thủ cạnh tranh của chúng ta cũng vậy. Sẽ đến một ngày nào đó, chúng ta sẽ phải đối mặt với một cú sốc bất lợi theo chiều hướng ngược lại. Về cơ bản, chi phí nguyên liệu thô phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, bởi vì dĩ nhiên, chúng tôi sẽ luôn mua những nguyên liệu tốt nhất có thể, bất kể mức giá của chúng có biến động ra sao. Chúng tôi coi chất lượng sản phẩm là điều bất khả xâm phạm.

Tuy nhiên, các loại chi phí khác thì có khả năng kiểm soát tốt hơn, và đây chính là lĩnh vực mà chúng ta đã gặp vấn đề. Tính trên mỗi pound sản phẩm, các chi phí của chúng ta (không bao gồm nguyên liệu thô) trong vài năm qua đã tăng cao hơn đáng kể so với mức tăng giá chung. Việc đảo ngược xu hướng này là điều thiết yếu đối với vị thế cạnh tranh và tiềm năng lợi nhuận của chúng ta.

The other problem we face, as the table suggests, is our recent inability to achieve meaningful gains in pounds sold. The industry has the same problem. But for many years we outperformed the industry in this respect and now we are not.

The poundage volume in our retail stores has been virtually unchanged each year for the past four, despite small increases every year in the number of shops (and in distribution expense as well). Of course, dollar volume has increased because we have raised prices significantly. But we regard the most important measure of retail trends to be units sold per store rather than dollar volume. On a same-store basis (counting only shops open throughout both years) with all figures adjusted to a 52-week year, poundage was down .8 of 1% during 1983. This small decline was our best same-store performance since 1979; the cumulative decline since then has been about 8%. Quantity-order volume, about 25% of our total, has plateaued in recent years following very large poundage gains throughout the 1970s.

Dịch: Vấn đề khác mà chúng ta đối mặt, như bảng số liệu thể hiện, là việc thiếu khả năng của chúng ta gần đây để đạt được mức tăng trưởng có ý nghĩa về số lượng hàng bán ra tính theo pound. Toàn ngành cũng gặp phải vấn đề tương tự. Tuy nhiên, trong nhiều năm, chúng ta đã vượt trội hơn toàn ngành trong khía cạnh này và giờ đây chúng ta không còn như vậy nữa.

Khối lượng bán ra tại các cửa hàng bán lẻ của chúng ta gần như không thay đổi trong suốt bốn năm qua, mặc dù mỗi năm số lượng cửa hàng có tăng nhẹ (và chi phí phân phối cũng vậy). Dĩ nhiên, doanh thu tính theo đô la đã tăng vì chúng ta đã tăng đáng kể giá bán. Tuy nhiên, chúng tôi coi số đo quan trọng nhất để đánh giá xu hướng bán lẻ, là số lượng đơn vị bán được trên mỗi cửa hàng, thay vì doanh thu tính theo đô la. Thay đổi theo trên cùng cửa hàng theo thời gian (chỉ tính các cửa hàng mở trong suốt cả hai năm), với tất cả số liệu điều chỉnh theo khung 52 tuần/năm, khối lượng bán ra đã giảm 0,8% trong năm 1983. Mức giảm nhỏ này là kết quả thay đổi trên cùng cửa hàng tốt nhất của chúng ta từ năm 1979; tổng mức giảm tích lũy kể từ đó đến nay là khoảng 8%. Khối lượng đơn hàng bán buôn, chiếm khoảng 25% tổng số của chúng ta, đã đi ngang trong những năm gần đây, sau những tăng trưởng cân hàng bán rất lớn trong suốt thập niên 1970.

We are not sure to what extent this flat volume – both in the retail shop area and the quantity order area – is due to our pricing policies and to what extent it is due to static industry volume, the recession, and the extraordinary share of market we already enjoy in our primary marketing area. Our price increase for 1984 is much more modest than has been the case in the past few years, and we hope that next year we can report better volume figures to you. But we have no basis to forecast these.

Despite the volume problem, See’s strengths are many and important. In our primary marketing area, the West, our candy is preferred by an enormous margin to that of any competitor. In fact, we believe most lovers of chocolate prefer it to candy costing two or three times as much. (In candy, as in stocks, price and value can differ; price is what you give, value is what you get.) The quality of customer service in our shops – operated throughout the country by us and not by franchisees is every bit as good as the product. Cheerful, helpful personnel are as much a trademark of See’s as is the logo on the box. That’s no small achievement in a business that requires us to hire about 2000 seasonal workers. We know of no comparably-sized organization that betters the quality of customer service delivered by Chuck Huggins and his associates.

Because we have raised prices so modestly in 1984, we expect See’s profits this year to be about the same as in 1983.

Dịch: Chúng tôi không chắc bao nhiêu phần của việc khối lượng đi ngang – ở cả mảng bán lẻ lẫn bán buôn – là do các chính sách giá của chúng ta, và bao nhiêu phần là do sản lượng toàn ngành đình trệ, do suy thoái, hay do thị phần vốn đã rất lớn mà chúng ta đang tận hưởng tại các khu vực tiếp thị chính. Mức tăng giá cho năm 1984 là khiêm tốn hơn nhiều so với những năm trước, và chúng tôi hy vọng rằng năm sau có thể báo cáo những con số khả quan hơn về khối lượng hàng bán. Tuy nhiên, chúng tôi không có cơ sở nào để dự báo thế.

Bất chấp vấn đề về khối lượng hàng bán, See’s vẫn sở hữu nhiều thế mạnh quan trọng. Tại những khu vực tiếp thị chính của chúng ta, miền Tây, kẹo của chúng ta được ưu tiên lựa chọn với cách biệt khổng lồ so với bất kỳ đối thủ nào. Thực tế, chúng tôi tin rằng hầu hết những người yêu thích sô-cô-la đều ưa chuộng sản phẩm của See’s hơn cả những loại kẹo có giá đắt gấp hai, ba lần. (Với bánh kẹo, cũng giống như cổ phiếu, giá cả và giá trị có thể khác nhau; giá cả là thứ quý vị bỏ ra, giá trị là thứ quý vị nhận về). Chất lượng dịch vụ khách hàng tại các cửa hàng – được chúng ta trực tiếp vận hành trên khắp cả nước chứ không thông qua hình thức nhượng quyền, cũng tốt y như chất lượng sản phẩm. Đội ngũ nhân viên vui vẻ, tận tình đã trở thành một dấu ấn thương hiệu của See’s giống như là chiếc logo trên vỏ hộp vậy. Đó không hề là một thành tựu nhỏ trong một ngành kinh doanh đòi hỏi chúng ta phải thuê khoảng 2000 nhân viên thời vụ. Chúng tôi không biết một tổ chức nào với kích cỡ tương đương, mà vượt được chất lượng dịch vụ khách hàng do Chuck Huggins cùng các cộng sự của ông mang lại.

Vì chúng ta chỉ tăng giá rất khiêm tốn trong năm 1984, chúng tôi dự kiến lợi nhuận của See’s năm nay sẽ ở mức xấp xỉ so với năm 1983.

• Bình luận: mặc dù See’s Candies thường được đánh giá là một trong những nhãn hiệu sô cô la ngon hàng đầu thế giới (năm 2018 Elon Musk từng đăng bài tuyên bố sẽ mở công ty Boring Candy để đánh bại See’s, nhưng sau khi thử nhiều hãng kẹo sô cô la mà không tìm thấy cái nào có khả năng làm điều đóđã lẳng lặng xóa bài), nhưng vấn đề khó mở rộng thị trường để tăng trưởng đáng kể sản lượng đến 2025 vẫn chưa có lời giải triệt để, và thị trường của See’s vẫn giới hạn chủ yếu ở bờ Tây nước Mỹ. Việc Buffett, thay vì đổ tiền để cố đưa See’s thành một thương hiệu toàn cầu, đã dùng lợi nhuận See’s tạo ra để đi đầu tư vào các công ty khác, cho thấy một công ty dù tuyệt vời đến đâu cũng sẽ gặp giới hạn phát triển.

We often are asked why Berkshire does not split its stock. The assumption behind this question usually appears to be that a split would be a pro-shareholder action. We disagree. Let me tell you why.

One of our goals is to have Berkshire Hathaway stock sell at a price rationally related to its intrinsic business value. (But note “rationally related”, not “identical”: if well-regarded companies are generally selling in the market at large discounts from value, Berkshire might well be priced similarly.) The key to a rational stock price is rational shareholders, both current and prospective.

Dịch: Chúng tôi thường được hỏi tại sao Berkshire không tách cổ phiếu. Giả định đằng sau câu hỏi này thường cho rằng việc tách cổ phiếu là một hành động có lợi cho cổ đông. Chúng tôi không đồng ý. Để tôi giải thích tại sao.

Một trong những mục tiêu của chúng tôi là để cổ phiếu Berkshire Hathaway được giao dịch ở mức giá tương đối hợp lý với giá trị kinh doanh nội tại. (Nhưng lưu ý “tương đối hợp lý”, không phải “ngang bằng”: nếu các công ty được đánh giá cao mà nhìn chung đang được bán trên thị trường ở mức chiết khấu cao so với giá trị, thì Berkshire cũng có thể sẽ bị định giá tương tự). Chìa khóa để có một giá cổ phiếu hợp lý là những cổ đông hợp lý, bao gồm cả cổ đông hiện tại và cổ đông tiềm năng.

If the holders of a company’s stock and/or the prospective buyers attracted to it are prone to make irrational or emotion- based decisions, some pretty silly stock prices are going to appear periodically. Manic-depressive personalities produce manic-depressive valuations. Such aberrations may help us in buying and selling the stocks of other companies. But we think it is in both your interest and ours to minimize their occurrence in the market for Berkshire.

Dịch: Nếu những người đang giữ cổ phiếu của một công ty và/hoặc những người tiềm năng sẽ mua cổ phiếu của công ty đó, hay đưa ra các quyết định phi lý trí hoặc dựa trên cảm xúc, thì những mức giá cổ phiếu khá ngớ ngẩn sẽ xuất hiện định kỳ. Những tính cách trầm cảm thất thường tạo ra những định giá trầm cảm thất thường. Những sai lệch như vậy có thể giúp chúng tôi trong việc mua và bán cổ phiếu của các công ty khác. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng đó là lợi ích cho cả quý vị lẫn chúng tôi khi tối giảm điều như vậy xảy ra với Berkshire trên thị trường .

To obtain only high quality shareholders is no cinch. Mrs. Astor could select her 400, but anyone can buy any stock. Entering members of a shareholder “club” cannot be screened for intellectual capacity, emotional stability, moral sensitivity or acceptable dress. Shareholder eugenics, therefore, might appear to be a hopeless undertaking.

In large part, however, we feel that high quality ownership can be attracted and maintained if we consistently communicate our business and ownership philosophy – along with no other conflicting messages – and then let self selection follow its course. For example, self selection will draw a far different crowd to a musical event advertised as an opera than one advertised as a rock concert even though anyone can buy a ticket to either.

Dịch: Để chỉ thu hút những cổ đông chất lượng cao là không hề dễ dàng. Bà Astor có thể chọn 400 vị khách thượng lưu của mình, nhưng bất cứ ai cũng có thể mua bất kỳ cổ phiếu nào. Những thành viên tham gia “câu lạc bộ” cổ đông không thể bị sàng lọc trước về năng lực trí tuệ, sự ổn định cảm xúc, sự nhạy cảm về đạo đức hay chuẩn mực ăn mặc. Ưu sinh cổ đông, do đó, có vẻ là việc vô vọng.

Tuy nhiên, nhìn chung thì chúng tôi cảm thấy một lượng chủ sở hữu chất lượng cao có thể được thu hút và duy trì, nếu chúng tôi nhất quán truyền thông triết lý kinh doanh và sở hữu của mình – mà không kèm theo bất kỳ thông điệp mâu thuẫn nào khác – và rồi để quá trình tự sàng lọc diễn ra tự nhiên. Chẳng hạn, quá trình tự sàng lọc sẽ thu hút một đám đông, tới một sự kiện âm nhạc được quảng cáo là biểu diễn opera, rất khác so với một sự kiện quảng cáo là chơi nhạc rock, dù cho bất kỳ ai cũng có thể mua vé cho một trong hai sự kiện này.

Through our policies and communications – our “advertisements” – we try to attract investors who will understand our operations, attitudes and expectations. (And, fully as important, we try to dissuade those who won’t.) We want those who think of themselves as business owners and invest in companies with the intention of staying a long time. And, we want those who keep their eyes focused on business results, not market prices.

Dịch: Thông qua các chính sách và các truyền thông – “quảng cáo” của chúng tôi – chúng tôi cố gắng thu hút những nhà đầu tư hiểu được cách thức hoạt động, thái độ và kỳ vọng của chúng tôi. (Và, quan trọng không kém là chúng tôi cố gắng can ngăn những người không cùng tư duy tham gia.) Chúng tôi muốn những người tự coi mình là những chủ sở hữu doanh nghiệp và đầu tư vào công ty với ý định gắn bó lâu dài. Và, chúng tôi muốn những người luôn tập trung vào kết quả kinh doanh, chứ không phải giá cổ phiếu trên thị trường.

Investors possessing those characteristics are in a small minority, but we have an exceptional collection of them. I believe well over 90% – probably over 95% – of our shares are held by those who were shareholders of Berkshire or Blue Chip five years ago. And I would guess that over 95% of our shares are held by investors for whom the holding is at least double the size of their next largest. Among companies with at least several thousand public shareholders and more than $1 billion of market value, we are almost certainly the leader in the degree to which our shareholders think and act like owners. Upgrading a shareholder group that possesses these characteristics is not easy.

Dịch: Những nhà đầu tư sở hữu các đặc điểm đó là một thiểu số nhỏ, nhưng chúng ta có một tập hợp hiếm có những người như vậy. Tôi tin rằng trên 90% – thậm chí có thể trên 95% – cổ phần của chúng ta đang được nắm giữ bởi những người vốn đã là cổ đông của Berkshire hoặc Blue Chip từ 5 năm trước. Và tôi đoán rằng trên 95% cổ phần của chúng ta nằm trong tay những nhà đầu tư mà đối với họ, khoản đầu tư vào đây lớn tối thiểu gấp đôi so với khoản đầu tư lớn nhì của họ. Trong số các công ty có ít nhất vài nghìn cổ đông đại chúng và giá trị vốn hóa thị trường hơn 1 tỷ đô-la, chúng ta gần như chắc chắn là đơn vị dẫn đầu về mức độ cổ đông có tư duy và hành động như chủ sở hữu. Nâng cấp một nhóm cổ đông vốn đã sở hữu những đặc điểm này là điều không dễ.

Were we to split the stock or take other actions focusing on stock price rather than business value, we would attract an entering class of buyers inferior to the exiting class of sellers. At $1300, there are very few investors who can’t afford a Berkshire share. Would a potential one-share purchaser be better off if we split 100 for 1 so he could buy 100 shares? Those who think so and who would buy the stock because of the split or in anticipation of one would definitely downgrade the quality of our present shareholder group. (Could we really improve our shareholder group by trading some of our present clear-thinking members for impressionable new ones who, preferring paper to value, feel wealthier with nine $10 bills than with one $100 bill?) People who buy for non-value reasons are likely to sell for non-value reasons. Their presence in the picture will accentuate erratic price swings unrelated to underlying business developments.

Dịch: Nếu chúng tôi tách cổ phiếu hoặc làm những việc tập trung vào giá cổ phiếu thay vì giá trị doanh nghiệp, chúng tôi sẽ thu hút một lớp người mua mới kém chất lượng hơn lớp người bán để rời đi. Ở giá 1.300 đô, có rất ít nhà đầu tư không có khả năng mua nổi một cổ phiếu Berkshire. Liệu người tiềm năng mua một cổ phiếu sẽ có lợi hơn nếu chúng tôi tách cổ phiếu từ 1 thành 100 để ông ta có thể mua 100 cổ phiếu? Những ai nghĩ như vậy và định mua cổ phiếu chỉ vì việc phân tách hoặc vì kỳ vọng nó sẽ xảy ra, chắc chắn sẽ hạ thấp chất lượng nhóm cổ đông hiện tại của chúng ta. (Liệu chúng ta có thực sự cải thiện được nhóm cổ đông của mình, bằng cách đổi những thành viên hiện thời với tư duy sáng suốt để lấy những thành viên mới dễ bị tác động, ưa chuộng tiền dày cộm hơn là giá trị, cảm thấy giàu có hơn với chín tờ 10 đô thay vì một tờ 100 đô?) Những người mua vì những lý do không liên quan đến giá trị thì cũng nhiều khả năng sẽ bán vì những lý do không liên quan đến giá trị. Sự hiện diện của họ sẽ làm trầm trọng thêm những biến động giá thất thường không liên quan gì đến những tiến triển trong việc kinh doanh cốt lõi.

We will try to avoid policies that attract buyers with a short-term focus on our stock price and try to follow policies that attract informed long-term investors focusing on business values. just as you purchased your Berkshire shares in a market populated by rational informed investors, you deserve a chance to sell – should you ever want to – in the same kind of market. We will work to keep it in existence.

Dịch: Chúng tôi sẽ cố gắng tránh các chính sách thu hút những người mua với sự tập trung ngắn hạn vào giá cổ phiếu, và thi hành các chính sách thu hút những nhà đầu tư dài hạn có hiểu biết, tập trung vào giá trị doanh nghiệp. Giống như việc quý vị đã mua cổ phiếu Berkshire trong một thị trường tràn ngập những nhà đầu tư lý trí và hiểu biết, quý vị xứng đáng có cơ hội được bán ra – nếu quý vị muốn – trong một thị trường tương tự. Chúng tôi sẽ nỗ lực để duy trì sự tồn tại của môi trường đó.

One of the ironies of the stock market is the emphasis on activity. Brokers, using terms such as “marketability” and “liquidity”, sing the praises of companies with high share turnover (those who cannot fill your pocket will confidently fill your ear). But investors should understand that what is good for the croupier is not good for the customer. A hyperactive stock market is the pickpocket of enterprise.

Dịch: Một trong những điều mỉa mai của thị trường chứng khoán là việc chú trọng vào hoạt động giao dịch. Các môi giới, sử dụng những thuật ngữ như “dễ giao dịch” và “tính thanh khoản”, để ca ngợi các công ty có tỷ lệ luân chuyển cổ phiếu cao (những người không thể rót đầy tiền vào túi của quý vị, sẽ tự tin rót đầy tai quy vị). Nhưng các nhà đầu tư hãy hiểu rằng những gì có lợi cho nhà cái chia bài thì không hề có lợi cho khách chơi. Một thị trường chứng khoán quá sôi động chính là kẻ móc túi của doanh nghiệp.

For example, consider a typical company earning, say, 12% on equity. Assume a very high turnover rate in its shares of 100% per year. If a purchase and sale of the stock each extract commissions of 1% (the rate may be much higher on low-priced stocks) and if the stock trades at book value, the owners of our hypothetical company will pay, in aggregate, 2% of the company’s net worth annually for the privilege of transferring ownership. This activity does nothing for the earnings of the business, and means that 1/6 of them are lost to the owners through the “frictional” cost of transfer. (And this calculation does not count option trading, which would increase frictional costs still further.)
Dịch: Ví dụ, hãy xét một công ty điển hình có lãi suất trên vốn chủ sở hữu là 12%. Giả sử tỷ lệ giao dịch cổ phiếu của công ty này rất cao, lên tới 100% mỗi năm. Nếu mỗi lần mua và bán cổ phiếu đều phải chịu một khoản phí hoa hồng 1% (tỷ lệ này có thể cao hơn nhiều đối với cổ phiếu giá thấp), và nếu cổ phiếu giao dịch ở mức giá trị sổ sách, thì các chủ sở hữu của công ty giả thuyết của chúng ta sẽ phải trả tổng cộng 2% giá trị ròng của công ty hàng năm chỉ để có quyền thay tên chủ sở hữu. Hoạt động này không có lợi ích gì cho lợi nhuận của doanh nghiệp, và có nghĩa là 1/6 lợi nhuận cho cổ đông bị mất đi do chi phí “ma sát” của việc chuyển nhượng. (Và phép tính này không bao gồm giao dịch quyền chọn, cái mà sẽ làm tăng thêm chi phí ma sát.)

All that makes for a rather expensive game of musical chairs. Can you imagine the agonized cry that would arise if a governmental unit were to impose a new 16 2/3% tax on earnings of corporations or investors? By market activity, investors can impose upon themselves the equivalent of such a tax.

Days when the market trades 100 million shares (and that kind of volume, when over-the-counter trading is included, is today abnormally low) are a curse for owners, not a blessing – for they mean that owners are paying twice as much to change chairs as they are on a 50-million-share day. If 100 million- share days persist for a year and the average cost on each purchase and sale is 15 cents a share, the chair-changing tax for investors in aggregate would total about $7.5 billion – an amount roughly equal to the combined 1982 profits of Exxon, General Motors, Mobil and Texaco, the four largest companies in the Fortune 500.

Dịch: Tất cả những điều đó tạo nên một cuộc chơi ghế âm nhạc khá tốn kém. Liệu quý vị có thể tưởng tượng được những tiếng kêu gào thảm thiết vang lên nếu một cơ quan chính phủ áp đặt một loại thuế mới ở mức 16,67% (tức 1/6) trên lợi nhuận của các tập đoàn hoặc nhà đầu tư không? Với việc tích cực giao dịch trên thị trường, các nhà đầu tư có thể tự áp đặt lên chính mình một khoản tương tự như thuế đó.

Những ngày mà thị trường giao dịch 100 triệu cổ phiếu (và mức khối lượng đó, nếu tính cả giao dịch phi tập trung OTC, thì hiện nay chỉ là mức thấp bất thường) là một lời nguyền đối với những người sở hữu, chứ không phải một phước lành – bởi nó có nghĩa là các chủ sở hữu phải trả gấp đôi để đổi ghế so với một ngày có giao dịch 50 triệu cổ phiếu. Nếu những ngày giao dịch 100 triệu cổ phiếu kéo dài trong một năm và chi phí trung bình cho mỗi lần mua và bán là 15 xu một cổ phiếu, thì tiền thuế đổi ghế mà các nhà đầu tư phải gánh chịu sẽ tổng cộng thành khoảng 7,5 tỷ đô – một con số xấp xỉ tổng lợi nhuận năm 1982 của cả Exxon, General Motors, Mobil và Texaco, bốn công ty lớn nhất trong danh sách Fortune 500.

• Bình luận: hiện ở Mỹ và các nước phát triển có một số app quảng cáo là không thu phí giao dịch chứng khoán, ví dụ như Robinhood. Tuy nhiên người dùng cần biết rõ là các công ty đó vẫn cần kiếm tiền để tồn tại, và cách họ kiếm tiền phổ biến nhất là bằng việc nhận thanh toán cho luồng đơn hàng (Payment for order flow, PFOF) – tức là điều hướng các lệnh giao dịch trên app đến một số nhà tạo lập thị trường (market maker) để nhận lại hoa hồng. Bởi vì các nhà tạo lập thị trường trả tiền cho app đó cũng phải kiếm lời nên họ thường có mức bid-ask spread tệ hơn giá trực tiếp trên sàn. Vậy là dù mất trực tiếp bởi công ty môi giới chứng khoán thu hay gián tiếp qua việc mua/bán ở giá không phải là tốt nhất từ các nhà tạo lập thị trường, thì nhà đầu tư vẫn sẽ phải gánh một mức chi phí giao dịch nào đó. Với chiến lược mua và giữ (buy and hold) thì nhà đầu tư sẽ tối thiểu chi phí này. Còn nếu giao dịch càng thường xuyên thì chi phí này sẽ càng tăng, tức là lợi nhuận kỳ vọng cần đạt được để bù cho chi phí sẽ phải càng cao, mà lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro sẽ càng lớn.

These companies had a combined net worth of $75 billion at yearend 1982 and accounted for over 12% of both net worth and net income of the entire Fortune 500 list. Under our assumption investors, in aggregate, every year forfeit all earnings from this staggering sum of capital merely to satisfy their penchant for “financial flip-flopping”. In addition, investment management fees of over $2 billion annually – sums paid for chair-changing advice – require the forfeiture by investors of all earnings of the five largest banking organizations (Citicorp, Bank America, Chase Manhattan, Manufacturers Hanover and J. P. Morgan). These expensive activities may decide who eats the pie, but they don’t enlarge it.

Dịch: Các công ty này có tổng giá trị tài sản ròng là 75 tỷ đô vào cuối năm 1982, chiếm hơn 12% cả về tài sản ròng và lợi nhuận ròng của toàn bộ danh sách Fortune 500. Theo giả định của chúng tôi, các nhà đầu tư, nhìn chung, hàng năm đánh mất toàn bộ lợi nhuận sinh ra từ lượng vốn khổng lồ này, chỉ để thỏa mãn sở thích quay đầu tài chính liên tục của mình. Thêm vào đó, phí quản lý đầu tư trên 2 tỷ đô la mỗi năm – số tiền chi trả cho những lời khuyên về việc đổi ghế – đã  buộc các nhà đầu tư từ bỏ tất cả lợi nhuận của năm ngân hàng lớn nhất (Citicorp, Bank America, Chase Manhattan, Manufacturers Hanover và J.P. Morgan). Những hoạt động tốn kém này có thể quyết định ai là người được ăn miếng bánh, nhưng chúng hoàn toàn không làm cho miếng bánh đó to thêm.

(We are aware of the pie-expanding argument that says that such activities improve the rationality of the capital allocation process. We think that this argument is specious and that, on balance, hyperactive equity markets subvert rational capital allocation and act as pie shrinkers. Adam Smith felt that all noncollusive acts in a free market were guided by an invisible hand that led an economy to maximum progress; our view is that casino-type markets and hair-trigger investment management act as an invisible foot that trips up and slows down a forward-moving economy.)

Dịch: (Chúng tôi có biết lập luận làm to miếng bánh nói rằng những hoạt động như vậy cải thiện tính hợp lý của quá trình phân bổ vốn. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng lập luận này là chỉ đúng trên bề mặt và, nhìn chung, các thị trường cổ phiếu quá sôi động lại làm suy yếu việc phân bổ vốn hợp lý và thu nhỏ miếng bánh. Adam Smith cho rằng tất cả các hành động không thông đồng trong một thị trường tự do được điều khiển bởi bàn tay vô hình dẫn dắt nền kinh tế đạt được tiến bộ tối đa; quan điểm của chúng tôi là những thị trường kiểu sòng bạc và việc quản lý đầu tư hấp tấp, hoạt động như một bàn chân vô hình ngáng chân và làm chậm nền kinh tế đang trên đà phát triển.)

Contrast the hyperactive stock with Berkshire. The bid-and- ask spread in our stock currently is about 30 points, or a little over 2%. Depending on the size of the transaction, the difference between proceeds received by the seller of Berkshire and cost to the buyer may range downward from 4% (in trading involving only a few shares) to perhaps 1 1/2% (in large trades where negotiation can reduce both the market-maker’s spread and the broker’s commission). Because most Berkshire shares are traded in fairly large transactions, the spread on all trading probably does not average more than 2%.

Dịch: Đối chiếu thị trường cổ phiếu sôi động quá mức đó với Berkshire. Mức chênh lệch giữa giá chào mua và giá chào bán đối với cổ phiếu của chúng ta hiện nay là khoảng 30 điểm, hay hơn 2% một chút. Tùy thuộc vào quy mô của giao dịch, sự khác biệt giữa số tiền mà người bán cổ phiếu Berkshire nhận được và chi phí người mua phải bỏ ra, có thể giao động từ mức 4% (đối với các giao dịch chỉ vài cổ phiếu) xuống đến khoảng 1,5% (đối với các giao dịch lớn, khi mà việc thương lượng có thể làm giảm cả mức chênh lệch của nhà tạo lập thị trường và phí môi giới). Vì hầu hết cổ phiếu Berkshire được giao dịch thông qua các giao dịch có quy mô khá lớn, mức chênh lệch trên tổng khối lượng giao dịch có lẽ trung bình không vượt quá 2%.

• Bình luận: đọc thêm về bid ask spread ở đây.

Meanwhile, true turnover in Berkshire stock (excluding inter-dealer transactions, gifts and bequests) probably runs 3% per year. Thus our owners, in aggregate, are paying perhaps 6/100 of 1% of Berkshire’s market value annually for transfer privileges. By this very rough estimate, that’s $900,000 – not a small cost, but far less than average. Splitting the stock would increase that cost, downgrade the quality of our shareholder population, and encourage a market price less consistently related to intrinsic business value. We see no offsetting advantages.

Dịch: Trong khi đó, tỷ lệ luân chuyển cổ phiếu thực tế của Berkshire (loại trừ các giao dịch giữa các đại lý, quà tặng và thừa kế) có lẽ rơi vào khoảng 3% mỗi năm. Như vậy, các chủ sở hữu của chúng ta, tính trên tổng thể, chỉ đang chi trả khoảng 6/100 của 1% giá trị thị trường của Berkshire hàng năm cho quyền chuyển nhượng. Theo ước tính sơ bộ này, nó là khoảng 900.000 đô – một mức phí không nhỏ, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình. Việc tách cổ phiếu sẽ làm tăng chi phí đó, hạ thấp chất lượng cộng đồng cổ đông của chúng ta và khuyến khích một mức giá thị trường thiếu nhất quán với giá trị kinh doanh nội tại. Chúng tôi không thấy có bất kỳ lợi ích bù đắp nào từ việc đó.

Last year in this section I ran a small ad to encourage acquisition candidates. In our communications businesses we tell our advertisers that repetition is a key to results (which it is), so we will again repeat our acquisition criteria.

We prefer:

(1) large purchases (at least $5 million of after-tax earnings),

(2) demonstrated consistent earning power (future projections are of little interest to us, nor are “turn-around” situations),

(3) businesses earning good returns on equity while employing little or no debt,

(4) management in place (we can’t supply it),

(5) simple businesses (if there’s lots of technology, we won’t understand it),

(6) an offering price (we don’t want to waste our time or that of the seller by talking, even preliminarily, about a transaction when price is unknown).

We will not engage in unfriendly takeovers. We can promise complete confidentiality and a very fast answer – customarily within five minutes – as to whether we’re interested. We prefer to buy for cash, but will consider issuance of stock when we receive as much in intrinsic business value as we give. We invite potential sellers to check us out by contacting people with whom we have done business in the past. For the right business – and the right people – we can provide a good home.

Dịch: Năm ngoái, trong mục này, tôi đã đăng một mẩu quảng cáo nhỏ để khuyến khích các ứng viên tiềm năng cho việc thâu tóm. Trong mảng kinh doanh truyền thông của mình, chúng tôi luôn nói với các nhà quảng cáo rằng sự lặp lại là chìa khóa để đạt được kết quả (và thực tế đúng là như vậy), vì thế chúng tôi sẽ một lần nữa nhắc lại các tiêu chí thâu tóm của mình.

Chúng tôi ưu tiên:

(1) Các giao dịch lớn (ít nhất là 5 triệu đô lợi nhuận sau thuế),

(2) Năng lực sinh lời ổn định đã được chứng minh (dự báo tương lai không phải là điều chúng tôi quan tâm, và các vụ “quay đầu” doanh nghiệp cũng thế),

(3) Các doanh nghiệp có lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tốt trong khi sử dụng ít hoặc không sử dụng nợ,

(4) Ban quản lý có sẵn (chúng tôi không thể cung cấp cái này),

(5) Các doanh nghiệp đơn giản (nếu có quá nhiều công nghệ, chúng tôi sẽ không hiểu được),

(6) Giá đề xuất (chúng tôi không muốn lãng phí thời gian của mình hay của người bán với việc trao đổi, dù là sơ bộ, về một giao dịch mà giá chưa có).

Chúng tôi sẽ không thực hiện các thương vụ thâu tóm thù địch. Chúng tôi có thể cam đoan bảo mật tuyệt đối và có câu trả lời rất nhanh – thường trong vòng năm phút – là liệu chúng tôi có quan tâm hay không. Chúng tôi ưu tiên mua bằng tiền mặt, nhưng sẽ xem xét việc phát hành cổ phiếu khi chúng tôi nhận về phần giá trị kinh doanh nội tạibằng với phần mà chúng tôi chi ra. Chúng tôi mời các bên bán tiềm năng tìm hiểu về chúng tôi bằng cách liên hệ với những người mà chúng tôi đã từng làm việc với trước đây. Đối với một doanh nghiệp phù hợp – và những con người phù hợp – chúng tôi có thể mang lại một mái nhà tốt.

Goodwill and its Amortization: The Rules and The Realities

This appendix deals only with economic and accounting Goodwill – not the goodwill of everyday usage. For example, a business may be well liked, even loved, by most of its customers but possess no economic goodwill. (AT&T, before the breakup, was generally well thought of, but possessed not a dime of economic Goodwill.) And, regrettably, a business may be disliked by its customers but possess substantial, and growing, economic Goodwill. So, just for the moment, forget emotions and focus only on economics and accounting.

Dịch: Goodwill và Khấu hao: Luật Lệ và Thực Tế

Phụ lục này chỉ bàn về “Goodwill” dưới góc độ kinh tế và kế toán – không phải “goodwill” (thiện chí) theo cách dùng hàng ngày. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể được thích, thậm chí là yêu, bởi đa số khách hàng nhưng lại không sở hữu một chút “Goodwill” kinh tế nào. (AT&T, trước bị chia tách, thường được đánh giá tốt, nhưng lại không có lấy một xu “Goodwill” kinh tế.) Và, tiếc là, một doanh nghiệp có thể bị khách hàng không thích nhưng lại sở hữu “Goodwill” kinh tế đáng kể và đang gia tăng. Vậy, trong lúc này, hãy tạm gạt bỏ cảm xúc và chỉ tập trung vào khía cạnh kinh tế và kế toán.

When a business is purchased, accounting principles require that the purchase price first be assigned to the fair value of the identifiable assets that are acquired. Frequently the sum of the fair values put on the assets (after the deduction of liabilities) is less than the total purchase price of the business. In that case, the difference is assigned to an asset account entitled “excess of cost over equity in net assets acquired”. To avoid constant repetition of this mouthful, we will substitute “Goodwill”.

Dịch: Khi một doanh nghiệp được mua lại, các nguyên tắc kế toán yêu cầu giá mua đầu tiên phải được phân bổ cho giá trị hợp lý của các tài sản hữu hình có thể xác định được. Thông thường, tổng giá trị hợp lý của các tài sản (sau khi trừ đi các nghĩa vụ nợ) sẽ thấp hơn tổng giá được mua của doanh nghiệp đó. Trong trường hợp đó, phần chênh lệch sẽ được ghi nhận vào một tài khoản tài sản có tên là “phần chi phí vượt quá vốn chủ sở hữu trong tài sản thuần được mua”. Để tránh việc lặp đi lặp lại cụm từ dài dòng này, chúng ta sẽ thay thế nó bằng thuật ngữ “Goodwill”.

Accounting Goodwill arising from businesses purchased before November 1970 has a special standing. Except under rare circumstances, it can remain an asset on the balance sheet as long as the business bought is retained. That means no amortization charges to gradually extinguish that asset need be made against earnings.

The case is different, however, with purchases made from November 1970 on. When these create Goodwill, it must be amortized over not more than 40 years through charges – of equal amount in every year – to the earnings account. Since 40 years is the maximum period allowed, 40 years is what managements (including us) usually elect. This annual charge to earnings is not allowed as a tax deduction and, thus, has an effect on after-tax income that is roughly double that of most other expenses.

Dịch: “Goodwill” kế toán phát sinh từ các doanh nghiệp được mua trước tháng 11 năm 1970 có một vị thế đặc biệt. Trừ những trường hợp hiếm hoi, nó có thể được duy trì là một tài sản trên bảng cân đối kế toán miễn là doanh nghiệp đã mua vẫn được giữ lại. Điều đó có nghĩa là không cần phải áp dụng các khoản khấu hao vào thu nhập báo cáo để xóa dần tài sản đó.

Tuy nhiên, trường hợp này lại khác đối với các thương vụ mua lại được thực hiện từ tháng 11 năm 1970 trở đi. Khi các “Goodwill” được tạo ra, nó phải được khấu trừ hết trong vòng không quá 40 năm thông qua các khoản khấu hao – với giá trị khấu trừ mỗi năm bằng nhau – khi tính lợi nhuận. Vì 40 năm là thời hạn tối đa được cho phép, nên 40 năm là thời hạn mà các ban quản lý (bao gồm cả chúng tôi) thường chọn. Khoản phí hàng năm tính vào lợi nhuận này không được chấp nhận để khấu trừ thuế, và do đó, nó có tác động đến thu nhập sau thuế lớn khoảng gấp đôi so với hầu hết các loại chi phí khác.

• Bình luận: Tại thời điểm Buffett viết thư này thì các chuẩn mực kế toán Mỹ lúc đó cho phép khấu hao “goodwill” . Nhưng hiện nay (2025) việc này đã bị cấm và “goodwill” chỉ được phép tái định giá. Tuy nhiên việc định giá tài sản, vốn dựa rất nhiều vào ý kiến chủ quan, vốn đã khó với những tài sản hữu hình, thì lại càng khó cho những tài sản vô hình. Vậy nên vẫn có những trường hợp công ty đến khi tuyên bố phá sản vẫn có ghi nhận “goodwill” với giá trị dương trong bản cân đối kế toán (và các cổ đông hay chủ nợ phải tự loại bỏ nó khi tính toán vì không thể bán thanh lý nó được).

That’s how accounting Goodwill works. To see how it differs from economic reality, let’s look at an example close at hand. We’ll round some figures, and greatly oversimplify, to make the example easier to follow. We’ll also mention some implications for investors and managers.

Blue Chip Stamps bought See’s early in 1972 for $25 million, at which time See’s had about $8 million of net tangible assets. (Throughout this discussion, accounts receivable will be classified as tangible assets, a definition proper for business analysis.) This level of tangible assets was adequate to conduct the business without use of debt, except for short periods seasonally. See’s was earning about $2 million after tax at the time, and such earnings seemed conservatively representative of future earning power in constant 1972 dollars.

Dịch: Đó là cách mà “Goodwill” kế toán được sử dụng. Để thấy nó khác biệt như thế nào so với thực tế kinh tế, hãy cùng xem xét một ví dụ thực tế gần chúng ta. Chúng tôi sẽ làm tròn một số con số và đơn giản hóa nhiều để ví dụ dễ theo dõi hơn. Chúng tôi cũng sẽ đề cập đến một vài hàm ý đối với các nhà đầu tư và quản lý.

Blue Chip Stamps đã mua See’s vào đầu năm 1972 với giá 25 triệu đô, tại thời điểm đó See’s có khoảng 8 triệu đô tài sản ròng hữu hình. (Trong suốt cuộc thảo luận này, các khoản phải thu sẽ được phân loại là tài sản hữu hình, một định nghĩa phù hợp cho việc phân tích doanh nghiệp.) Mức tài sản hữu hình này là đủ để doanh nghiệp hoạt động mà không cần sử dụng nợ, ngoại trừ các thời điểm ngắn hạn theo mùa vụ. See’s kiếm được khoảng 2 triệu đô lợi nhuận sau thuế vào thời điểm đó, và mức lợi nhuận như vậy có vẻ là con số đại diện thận trọng cho năng lực sinh lời tương lai tính theo giá trị đồng đô la cố định vào năm 1972.

• Bình luận: “goodwill” của See’s trong ví dụ này = 25 triệu giá mua – 8 triệu tài sản ròng = 17 triệu. Tức là Buffett đã trả cho phần tài sản vô hình gấp hơn hai lần định giá của tài sản hữu hình.

Thus our first lesson: businesses logically are worth far more than net tangible assets when they can be expected to produce earnings on such assets considerably in excess of market rates of return. The capitalized value of this excess return is economic Goodwill.

In 1972 (and now) relatively few businesses could be expected to consistently earn the 25% after tax on net tangible assets that was earned by See’s – doing it, furthermore, with conservative accounting and no financial leverage. It was not the fair market value of the inventories, receivables or fixed assets that produced the premium rates of return. Rather it was a combination of intangible assets, particularly a pervasive favorable reputation with consumers based upon countless pleasant experiences they have had with both product and personnel.

Dịch: Vậy bài học đầu tiên của chúng ta: về mặt logic, các doanh nghiệp sẽ có giá trị lớn hơn nhiều so với tài sản ròng hữu hình, khi chúng có thể được kỳ vọng sẽ tạo ra mức lợi nhuận trên số tài sản đó, cao hơn đáng kể so với tỷ suất sinh lời của thị trường. Giá trị vốn hóa của phần lợi nhuận vượt mức này chính là “Goodwill” kinh tế.

Ở năm 1972 (và hiện nay), tương đối ít doanh nghiệp có thể được kỳ vọng sẽ đều đặn đạt mức lợi nhuận sau thuế 25% trên tài sản ròng hữu hình, như See’s – hơn thế nữa, đạt được kết quả này với phương pháp kế toán thận trọng và không sử dụng đòn bẩy tài chính. Không phải giá trị thị trường hợp lý của hàng tồn kho, các khoản phải thu hay tài sản cố định đã tạo ra tỷ suất sinh lời vượt trội đó. Mà nó là sự kết hợp của các tài sản vô hình, đặc biệt là danh tiếng tốt đẹp lan tỏa trong tâm trí người tiêu dùng dựa trên vô số trải nghiệm vừa lòng mà họ đã có với cả sản phẩm và đội ngũ nhân viên.

Such a reputation creates a consumer franchise that allows the value of the product to the purchaser, rather than its production cost, to be the major determinant of selling price. Consumer franchises are a prime source of economic Goodwill. Other sources include governmental franchises not subject to profit regulation, such as television stations, and an enduring position as the low cost producer in an industry.

Let’s return to the accounting in the See’s example. Blue Chip’s purchase of See’s at $17 million over net tangible assets required that a Goodwill account of this amount be established as an asset on Blue Chip’s books and that $425,000 be charged to income annually for 40 years to amortize that asset. By 1983, after 11 years of such charges, the $17 million had been reduced to about $12.5 million. Berkshire, meanwhile, owned 60% of Blue Chip and, therefore, also 60% of See’s. This ownership meant that Berkshire’s balance sheet reflected 60% of See’s Goodwill, or about $7.5 million.

Dịch: Danh tiếng như vậy tạo ra một đặc quyền với khách hàng, cho phép giá trị của sản phẩm đối với người mua, chứ không phải chi phí sản xuất, trở thành yếu tố quyết định chính đến giá bán. Đặc quyền với khách hàng là nguồn gốc chính của “Goodwill” kinh tế. Các nguồn khác bao gồm các đặc quyền từ chính phủ, không liên quan đến kiểm soát về lợi nhuận, chẳng hạn như các đài truyền hình, và vị thế bền vững là đơn vị sản xuất có chi phí thấp nhất trong một ngành.

Hãy quay lại mặt kế toán trong ví dụ về See’s. Việc Blue Chip mua See’s với giá 17 triệu đô cao hơn mức tài sản ròng hữu hình, yêu cầu một mục “Goodwill” với số tiền này phải được thiết lập như một tài sản trên sổ sách của Blue Chip, và mỗi năm phải khấu trừ 425.000 đô vào thu nhập trong vòng 40 năm để khấu hao dần tài sản đó. Đến năm 1983, sau 11 năm thực hiện các khoản khấu trừ như vậy, con số 17 triệu đô đã giảm xuống còn khoảng 12,5 triệu đô. Trong khi đó, Berkshire sở hữu 60% Blue Chip và do đó cũng sở hữu 60% See’s. Quyền sở hữu này có nghĩa là bảng cân đối kế toán của Berkshire phản ánh 60% “Goodwill” của See’s, tức khoảng 7,5 triệu đô.

In 1983 Berkshire acquired the rest of Blue Chip in a merger that required purchase accounting as contrasted to the “pooling” treatment allowed for some mergers. Under purchase accounting, the “fair value” of the shares we gave to (or “paid”) Blue Chip holders had to be spread over the net assets acquired from Blue Chip. This “fair value” was measured, as it almost always is when public companies use their shares to make acquisitions, by the market value of the shares given up.

The assets “purchased” consisted of 40% of everything owned by Blue Chip (as noted, Berkshire already owned the other 60%). What Berkshire “paid” was more than the net identifiable assets we received by $51.7 million, and was assigned to two pieces of Goodwill: $28.4 million to See’s and $23.3 million to Buffalo Evening News.

Dịch: Vào năm 1983, Berkshire đã mua nốt phần còn lại của Blue Chip trong một thương vụ sáp nhập yêu cầu phải áp dụng phương pháp kế toán mua lại, trái ngược với phương pháp hợp nhất lợi ích mà được cho phép dùng trong một số vụ sáp nhập khác. Theo phương pháp kế toán mua lại, “giá trị hợp lý” của số cổ phiếu mà chúng ta đã đưa cho (hoặc “thanh toán cho”) các cổ đông của Blue Chip phải được phân bổ dựa trên số tài sản ròng có được từ Blue Chip. “Giá trị hợp lý” này được đo lường, giống như trong hầu hết mọi trường hợp mà công ty đại chúng sử dụng cổ phiếu bản thân để thực hiện thâu tóm, bằng giá trị thị trường của số cổ phiếu được đánh đổi.

Số tài sản được “mua” bao gồm 40% mọi thứ thuộc sở hữu của Blue Chip (như đã viết ở trên, Berkshire vốn đã sở hữu 60% còn lại). Số tiền mà Berkshire “thanh toán” cao hơn giá trị tài sản ròng có thể xác định được mà chúng tôi nhận về là 51,7 triệu đô. Con số này được phân bổ vào hai khoản “Goodwill”: 28,4 triệu đô cho See’s và 23,3 triệu đô cho báo Buffalo Evening News.

After the merger, therefore, Berkshire was left with a Goodwill asset for See’s that had two components: the $7.5 million remaining from the 1971 purchase, and $28.4 million newly created by the 40% “purchased” in 1983. Our amortization charge now will be about $1.0 million for the next 28 years, and $.7 million for the following 12 years, 2002 through 2013.

In other words, different purchase dates and prices have given us vastly different asset values and amortization charges for two pieces of the same asset. (We repeat our usual disclaimer: we have no better accounting system to suggest. The problems to be dealt with are mind boggling and require arbitrary rules.)

Dịch: Do đó, sau thương vụ sáp nhập, Berkshire còn lại một mục tài sản “Goodwill” cho See’s bao gồm hai phần: 7,5 triệu đô vẫn còn từ lần mua năm 1971, và 28,4 triệu đô mới được tạo từ 40% cổ phần được “mua” vào năm 1983. Khoản phí khấu hao của chúng ta giờ sẽ là khoảng 1,0 triệu đô mỗi năm cho 28 năm tới, và 0,7 triệu đô mỗi năm cho 12 năm tiếp theo, từ năm 2002 đến năm 2013.

Nói cách khác, các ngày mua và giá mua khác nhau đã tạo ra cho chúng ta những giá trị tài sản và chi phí khấu hao khác nhau rõ rệt cho hai phần của cùng một tài sản. (Chúng tôi nhắc lại lời khước từ trách nhiệm thường lệ của mình: chúng tôi không có hệ thống kế toán nào tốt hơn để đề xuất. Những vấn đề cần giải quyết này thực sự rối óc và cần những quy tắc tùy nghi.)

But what are the economic realities? One reality is that the amortization charges that have been deducted as costs in the earnings statement each year since acquisition of See’s were not true economic costs. We know that because See’s last year earned $13 million after taxes on about $20 million of net tangible assets – a performance indicating the existence of economic Goodwill far larger than the total original cost of our accounting Goodwill. In other words, while accounting Goodwill regularly decreased from the moment of purchase, economic Goodwill increased in irregular but very substantial fashion.

Another reality is that annual amortization charges in the future will not correspond to economic costs. It is possible, of course, that See’s economic Goodwill will disappear. But it won’t shrink in even decrements or anything remotely resembling them. What is more likely is that the Goodwill will increase – in current, if not in constant, dollars – because of inflation.

Dịch: Nhưng thực tại về kinh tế là gì? Một thực tại là các khoản phí khấu hao được trừ vào mục chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh mỗi năm kể từ khi mua lại See’s không phải là những chi phí kinh tế thực sự. Chúng ta biết điều đó bởi vì năm ngoái See’s kiếm được 13 triệu đô lợi nhuận sau thuế trên khoảng 20 triệu đô tài sản ròng hữu hình – một thành quả cho thấy sự tồn tại của một “Goodwill” kinh tế lớn hơn nhiều so với tổng chi phí gốc của “Goodwill” kế toán. Nói cách khác, trong khi “Goodwill” kế toán liên tục giảm đi kể từ thời điểm mua, thì “Goodwill” kinh tế lại tăng, dù không đều đặn nhưng rất đáng kể.

Một thực tế khác là các khoản phí khấu hao hàng năm trong tương lai sẽ không tương ứng với các chi phí kinh tế. Tất nhiên, có khả năng “Goodwill” kinh tế của See’s sẽ biến mất. Nhưng nó sẽ không thu nhỏ như các bậc thang đều nhau hay bất cứ hình thức nào gần giống thế. Điều có khả năng hơn là “Goodwill” sẽ tăng lên – tính theo giá trị hiện hành, nếu không phải là cố định, của đồng đô la – do ảnh hưởng của lạm phát.

That probability exists because true economic Goodwill tends to rise in nominal value proportionally with inflation. To illustrate how this works, let’s contrast a See’s kind of business with a more mundane business. When we purchased See’s in 1972, it will be recalled, it was earning about $2 million on $8 million of net tangible assets. Let us assume that our hypothetical mundane business then had $2 million of earnings also, but needed $18 million in net tangible assets for normal operations. Earning only 11% on required tangible assets, that mundane business would possess little or no economic Goodwill.

A business like that, therefore, might well have sold for the value of its net tangible assets, or for $18 million. In contrast, we paid $25 million for See’s, even though it had no more in earnings and less than half as much in “honest-to-God” assets. Could less really have been more, as our purchase price implied? The answer is “yes” – even if both businesses were expected to have flat unit volume – as long as you anticipated, as we did in 1972, a world of continuous inflation.

Dịch: Khả năng đó tồn tại bởi vì “Goodwill” kinh tế thực sự có xu hướng tăng giá trị danh nghĩa tỷ lệ thuận với lạm phát. Để minh họa việc này, hãy thử đối chiếu một mô hình kinh doanh kiểu như See’s với một doanh nghiệp tầm thường hơn. Hãy nhớ lại, khi mua See’s vào năm 1972, công ty này kiếm được khoảng 2 triệu đô lợi nhuận trên 8 triệu đô tài sản ròng hữu hình. Giả sử doanh nghiệp tầm thường ví dụ của chúng ta khi đó cũng có mức lợi nhuận 2 triệu đô, nhưng lại cần tới 18 triệu đô tài sản ròng hữu hình để duy trì hoạt động bình thường. Với tỷ lệ sinh lời chỉ đạt 11% trên tài sản hữu hình cần thiết, doanh nghiệp tầm thường đó sử hữu rất ít hoặc không có “Goodwill” kinh tế.

Do đó, một doanh nghiệp như vậy rất có thể sẽ được bán ngang bằng với giá trị tài sản ròng hữu hình, tức là 18 triệu đô. Ngược lại, chúng tôi đã trả 25 triệu đô cho See’s, cho dù nó không có lợi nhuận cao hơn và sở hữu lượng tài sản thật chưa bằng một nửa. Liệu ít hơn có lại là nhiều hơn, như giá mua của chúng tôi ám chỉ không? Câu trả lời là “có” – ngay cả khi cả hai doanh nghiệp đều được dự báo sẽ có sản lượng bán ra không đổi – miễn là quý vị tiên liệu, như chúng tôi đã từng ở năm 1972, một thế giới lạm phát kéo dài.

To understand why, imagine the effect that a doubling of the price level would subsequently have on the two businesses. Both would need to double their nominal earnings to $4 million to keep themselves even with inflation. This would seem to be no great trick: just sell the same number of units at double earlier prices and, assuming profit margins remain unchanged, profits also must double.

But, crucially, to bring that about, both businesses probably would have to double their nominal investment in net tangible assets, since that is the kind of economic requirement that inflation usually imposes on businesses, both good and bad. A doubling of dollar sales means correspondingly more dollars must be employed immediately in receivables and inventories. Dollars employed in fixed assets will respond more slowly to inflation, but probably just as surely. And all of this inflation-required investment will produce no improvement in rate of return. The motivation for this investment is the survival of the business, not the prosperity of the owner.

Dịch: Để hiểu tại sao, hãy tưởng tượng tác động của việc tăng gấp đôi của mức giá chung dẫn lên hai doanh nghiệp sau đó. Cả hai đều sẽ cần phải tăng gấp đôi lợi nhuận danh nghĩa lên 4 triệu đô để giữ bản thân không bị tụt hậu so với lạm phát. Điều này trông có vẻ không phức tạp gì: chỉ cần bán cùng một lượng sản phẩm với mức giá gấp đôi trước đó, và giả định biên lợi nhuận không đổi, thì lợi nhuận chắc chắn cũng sẽ tăng gấp đôi.

Nhưng, quan trọng là, để đạt được kết quả đó, cả hai doanh nghiệp có lẽ sẽ phải tăng gấp đôi lượng đầu tư danh nghĩa vào tài sản ròng hữu hình, vì đó là kiểu đòi hỏi kinh tế mà lạm phát thường áp đặt lên các doanh nghiệp, bất kể tốt hay xấu. Doanh số tính theo đô la tăng gấp đôi, đồng nghĩa với việc lượng đô la tương ứng  phải được lập tức sử dụng vào các khoản phải thu và hàng tồn kho. Số đô la đầu tư vào tài sản cố định sẽ phản ứng chậm hơn với lạm phát, nhưng cũng gần như chắc chắn sẽ xảy ra. Và tất cả những khoản đầu tư bắt buộc do lạm phát này sẽ không tạo ra bất kỳ cải thiện nào về tỷ suất sinh lời. Động cơ của khoản đầu tư này là vì sự sinh tồn của doanh nghiệp, chứ không phải vì sự thịnh vượng của chủ sở hữu.

Remember, however, that See’s had net tangible assets of only $8 million. So it would only have had to commit an additional $8 million to finance the capital needs imposed by inflation. The mundane business, meanwhile, had a burden over twice as large – a need for $18 million of additional capital.

After the dust had settled, the mundane business, now earning $4 million annually, might still be worth the value of its tangible assets, or $36 million. That means its owners would have gained only a dollar of nominal value for every new dollar invested. (This is the same dollar-for-dollar result they would have achieved if they had added money to a savings account.)

Dịch: Tuy nhiên, hãy nhớ rằng See’s chỉ có 8 triệu đô tài sản ròng hữu hình. Vì vậy, nó sẽ chỉ phải bỏ thêm 8 triệu đô để cấp tiền cho các nhu cầu vốn do lạm phát áp đặt lên. Trong khi đó, doanh nghiệp tầm thường kia lại phải chịu một gánh nặng lớn hơn gấp đôi – nhu cầu thêm tới 18 triệu đô vốn bổ xung.

Sau khi mọi chuyện đã ổn định, doanh nghiệp tầm thường đó, hiện đang kiếm được 4 triệu đô mỗi năm, có thể vẫn chỉ đáng giá bằng giá trị tài sản hữu hình của nó, tức là 36 triệu đô. Điều đó có nghĩa là các chủ sở hữu của nó chỉ thu về được 1 đô giá trị danh nghĩa cho mỗi 1 đô mới được đầu tư thêm. (Đây cũng chính là kết quả mà với cùng chi phí ấy, họ sẽ nhận được nếu bỏ tiền vào tài khoản tiết kiệm).

See’s, however, also earning $4 million, might be worth $50 million if valued (as it logically would be) on the same basis as it was at the time of our purchase. So it would have gained $25 million in nominal value while the owners were putting up only $8 million in additional capital – over $3 of nominal value gained for each $1 invested.

Remember, even so, that the owners of the See’s kind of business were forced by inflation to ante up $8 million in additional capital just to stay even in real profits. Any unleveraged business that requires some net tangible assets to operate (and almost all do) is hurt by inflation. Businesses needing little in the way of tangible assets simply are hurt the least.

Dịch: Ngược lại, See’s, cũng với mức lợi nhuận 4 triệu đô, có thể đáng giá tới 50 triệu đô nếu được định giá (một cách hợp lý) trên cùng cơ sở như tại thời điểm chúng tôi mua. Như vậy, nó đã nhận thêm 25 triệu đô giá trị danh nghĩa trong khi các chủ sở hữu chỉ phải bỏ ra thêm 8 triệu đô vốn đầu tư – hơn 3 đô la giá trị danh nghĩa cho mỗi 1 đô la đầu tư thêm.

Dù vậy, hãy nhớ rằng các chủ sở hữu của mô hình kinh doanh kiểu như See’s vẫn bị lạm phát bắt phải nộp thêm 8 triệu đô vốn bổ sung chỉ để giữ nguyên lợi nhuận thực tế. Bất kỳ doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy tài chính nào mà cần một lượng tài sản ròng hữu hình để hoạt động (và hầu hết đều như vậy) đều bị tổn hại bởi lạm phát. Những doanh nghiệp cần ít tài sản hữu hình đơn giản là những bên bị tổn thương ít nhất.

And that fact, of course, has been hard for many people to grasp. For years the traditional wisdom – long on tradition, short on wisdom – held that inflation protection was best provided by businesses laden with natural resources, plants and machinery, or other tangible assets (“In Goods We Trust”). It doesn’t work that way. Asset-heavy businesses generally earn low rates of return – rates that often barely provide enough capital to fund the inflationary needs of the existing business, with nothing left over for real growth, for distribution to owners, or for acquisition of new businesses.

In contrast, a disproportionate number of the great business fortunes built up during the inflationary years arose from ownership of operations that combined intangibles of lasting value with relatively minor requirements for tangible assets. In such cases earnings have bounded upward in nominal dollars, and these dollars have been largely available for the acquisition of additional businesses. This phenomenon has been particularly evident in the communications business. That business has required little in the way of tangible investment – yet its franchises have endured. During inflation, Goodwill is the gift that keeps giving.

Dịch: Và dĩ nhiên sự thật đó là khó nắm bắt đối với nhiều người. Trong nhiều năm hiểu biết truyền thống – truyền thì nhiều mà hiểu thì ít – cho rằng cách phòng chống lạm phát tốt nhất là sở hữu các doanh nghiệp đầy ắp tài nguyên thiên nhiên, nhà xưởng, máy móc hoặc các tài sản hữu hình khác (“Tin vào của cải”). Thực tế không hoạt động như thế. Các doanh nghiệp thâm dụng tài sản thường có tỷ suất sinh lời thấp – mức mà chỉ vừa đủ để cấp vốn cho các nhu cầu phát sinh bởi lạm phát, của chính doanh nghiệp hiện thời đó, và chẳng còn dư gì cho việc tăng trưởng thực tế, chi trả cổ tức cho chủ sở hữu, hay thâu tóm các doanh nghiệp mới.

Ngược lại, một số lượng không cân xứng các khối tài sản doanh nghiệp đã được xây dựng trong những năm lạm phát, lại đến từ việc sở hữu các doanh nghiệp kết hợp được tài sản vô hình có giá trị lâu bền với nhu cầu tương đối thấp về tài sản hữu hình. Trong những trường hợp này, lợi nhuận danh nghĩa đã nhảy vọt, và số tiền đó hầu như được sẵn sàng để thâu tóm thêm các doanh nghiệp khác. Hiện tượng này đặc biệt rõ rệt trong ngành truyền thông. Ngành này đòi hỏi rất ít vốn đầu tư hữu hình – nhưng các đặc quyền của nó lại tồn tại bền vững. Trong thời kỳ lạm phát, “Goodwill” là món quà dùng mãi không hết.

But that statement applies, naturally, only to true economic Goodwill. Spurious accounting Goodwill – and there is plenty of it around – is another matter. When an overexcited management purchases a business at a silly price, the same accounting niceties described earlier are observed. Because it can’t go anywhere else, the silliness ends up in the Goodwill account. Considering the lack of managerial discipline that created the account, under such circumstances it might better be labeled “No-Will”. Whatever the term, the 40-year ritual typically is observed and the adrenalin so capitalized remains on the books as an “asset” just as if the acquisition had been a sensible one.

Dịch: Nhưng dĩ nhiên, nhận định đó chỉ áp dụng cho “Goodwill” kinh tế thực thụ. Còn “Goodwill” kế toán giả tạo – và nó thì nhan nhản khắp nơi – là một cái hoàn toàn khác. Khi một ban quản lý phấn khích  quá độ mua lại một doanh nghiệp với mức giá ngớ ngẩn, các khác biệt tinh vi về kế toán đã mô tả trước đó sẽ lộ diện. Bởi vì không thể hạch toán vào đâu khác, sự ngớ ngẩn đó cuối cùng lại được đẩy vào tài khoản “Goodwill”. Cân nhắc sự thiếu kỷ luật của bộ máy quản lý tạo ra tài khoản này, trong những hoàn cảnh như vậy, có lẽ tốt hơn nên dán nhãn nó là “”No-Will”. Dù được gọi tên nào đi nữa, nghi thức 40 năm khấu hao thường vẫn được tuân thủ, và lượng adrenalin được vốn hóa đó vẫn nằm trên sổ sách như một “tài sản”, như thể một vụ thâu tóm đó là hợp lý.

• Bình luận: với “goodwill” kinh tế thì chủ doanh nghiệp muốn mình có càng nhiều càng tốt; còn với “goodwill” kế toán thì họ sẽ nên muốn nó có càng ít trên bảng cân đối kế toán càng tốt. Bởi vì giá trị “goodwill” trên bảng cân đối kế toán này thường không phản ánh lợi thế thương mại (như đang được dịch phổ biến hiện nay), mà là phản ánh sự mua hớ những tài sản vô hình khi thâu tóm doanh nghiệp.

If you cling to any belief that accounting treatment of Goodwill is the best measure of economic reality, I suggest one final item to ponder.

Assume a company with $20 per share of net worth, all tangible assets. Further assume the company has internally developed some magnificent consumer franchise, or that it was fortunate enough to obtain some important television stations by original FCC grant. Therefore, it earns a great deal on tangible assets, say $5 per share, or 25%.

With such economics, it might sell for $100 per share or more, and it might well also bring that price in a negotiated sale of the entire business.

Assume an investor buys the stock at $100 per share, paying in effect $80 per share for Goodwill (just as would a corporate purchaser buying the whole company). Should the investor impute a $2 per share amortization charge annually ($80 divided by 40 years) to calculate “true” earnings per share? And, if so, should the new “true” earnings of $3 per share cause him to rethink his purchase price?

Dịch: Nếu quý vị vẫn còn níu kéo niềm tin rằng cách hạch toán “Goodwill” của kế toán cho là thước đo tốt nhất cho thực tế kinh tế, tôi đề xuất một điểm cuối cùng để quý vị suy ngẫm.

Giả sử một công ty có giá trị tài sản ròng là 20 đô trên mỗi cổ phiếu, tất cả đều là tài sản hữu hình. Giả sử thêm rằng công ty này đã tự bản thân phát triển được một đặc quyền với khách hàng tuyệt vời, hoặc nó đủ may mắn để sở hữu được một số đài truyền hình quan trọng được cấp bởi giấy phép ban đầu của FCC (Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ). Nhờ đó, nó kiếm được lợi nhuận rất lớn trên tài sản hữu hình, giả sử là 5 đô trên mỗi cổ phiếu, tức 25%.

Với nền tảng kinh tế như vậy, cổ phiếu của nó có thể được bán với giá 100 đô hoặc hơn, và nó hoàn toàn có thể đem mức giá đó vào cuộc thương thảo mua toàn phần doanh nghiệp.

Giả sử một nhà đầu tư mua cổ phiếu ở mức giá 100 đô, tức là thực tế đã trả 80 đô trên mỗi cổ phiếu cho “Goodwill” (hệt như một tập đoàn trả khi mua lại toàn bộ công ty). Vậy nhà đầu tư đó có nên tính một khoản chi phí khấu hao 2 đô trên mỗi cổ phiếu hàng năm (80 đô chia 40 năm) để tính toán lợi nhuận “thực” trên mỗi cổ phiếu không? Và nếu làm thế, thì mức lợi nhuận “thực” mới là 3 đô trên mỗi cổ phiếu có khiến ông ta suy nghĩ lại về mức giá mua của mình không?

• Bình luận: bởi vì khấu hao của “goodwill” không được khấu trừ vào thuế, nên dù giá trị khấu hao bằng 0 hay bao nhiêu đi nữa, nó cũng sẽ không thay đổi số tiền mặt lợi nhuận sau thuế thực tế mà chủ doanh nghiệp thu về. Nhưng cách số tiền đó thể hiện trên bảng cân đối kế toán sẽ khác nhau.

Nếu công ty ở ví dụ đang không có mục “goodwill” trong bảng cân đối kế toán thì toàn bộ lợi nhuận sau thuế sẽ đổ thẳng vào mục “Tiền mặt/Cash” trong bảng cân đối kế toán (bỏ qua khoản phải thu để đơn giản hóa ví dụ); và giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán sẽ tăng bằng đúng số lợi nhuận tiền mặt (tức 5 đô nhân với số lượng cổ phiếu).

Còn nếu doanh nghiệp đã đang có mục “goodwill” trong bảng cân đối kế toán rồi, thì ngoài việc giá trị mục “Tiền mặt/Cash” tăng, giá trị mục “goodwill” sẽ giảm (2 đô nhân với số lượng cổ phiếu); dẫn đến giá trị tài sản ròng thể hiện trên bảng cân đối kế toán sẽ chỉ tăng 3 đô trên mỗi cổ phiếu. Tức là lượng “miếng” không thay đổi nhưng lượng “tiếng” thì bị ít hơn.

We believe managers and investors alike should view intangible assets from two perspectives:

  1. In analysis of operating results – that is, in evaluating the underlying economics of a business unit – amortization charges should be ignored. What a business can be expected to earn on unleveraged net tangible assets, excluding any charges against earnings for amortization of Goodwill, is the best guide to the economic attractiveness of the operation. It is also the best guide to the current value of the operation’s economic Goodwill.
  2. In evaluating the wisdom of business acquisitions, amortization charges should be ignored also. They should be deducted neither from earnings nor from the cost of the business. This means forever viewing purchased Goodwill at its full cost, before any amortization. Furthermore, cost should be defined as including the full intrinsic business value – not just the recorded accounting value – of all consideration given, irrespective of market prices of the securities involved at the time of merger and irrespective of whether pooling treatment was allowed. For example, what we truly paid in the Blue Chip merger for 40% of the Goodwill of See’s and the News was considerably more than the $51.7 million entered on our books. This disparity exists because the market value of the Berkshire shares given up in the merger was less than their intrinsic business value, which is the value that defines the true cost to us.

Operations that appear to be winners based upon perspective (1) may pale when viewed from perspective (2). A good business is not always a good purchase – although it’s a good place to look for one.

We will try to acquire businesses that have excellent operating economics measured by (1) and that provide reasonable returns measured by (2). Accounting consequences will be totally ignored.

At yearend 1983, net Goodwill on our accounting books totaled $62 million, consisting of the $79 million you see stated on the asset side of our balance sheet, and $17 million of negative Goodwill that is offset against the carrying value of our interest in Mutual Savings and Loan.

We believe net economic Goodwill far exceeds the $62 million accounting number.

Dịch: Chúng tôi tin rằng các quản lý cũng như các nhà đầu tư nên nhìn nhận tài sản vô hình từ hai góc độ:

  1. Trong việc phân tích kết quả hoạt động – tức là khi đánh giá các nền tảng kinh tế của một doanh nghiệp – chi phí khấu hao nên bị bỏ qua. Những gì một doanh nghiệp có thể tạo ra trên tài sản ròng hữu hình không sử dụng đòn bẩy, loại trừ các khoản khấu hao vào lợi nhuận của “Goodwill”, chính là kim chỉ nam tốt nhất cho sức hấp dẫn kinh tế của doanh nghiệp đó. Đây cũng là kim chỉ nam tốt nhất cho giá trị hiện tại của “Goodwill” kinh tế của doanh nghiệp.
  2. Trong việc đánh giá tính khôn khoan của các thương vụ thâu tóm, các khoản khấu hao cũng nên được bỏ qua. Chúng không nên được khấu trừ vào lợi nhuận hay chi phí của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là luôn luôn nhìn nhận “Goodwill” đã mua theo toàn bộ giá vốn ban đầu, trước khi có bất kỳ khoản khấu hao nào. Hơn nữa, chi phí mua nên được định nghĩa bao gồm toàn bộ giá trị kinh doanh nội tại – chứ không chỉ là giá trị kế toán được ghi nhận – xét đến mọi khía cạnh, bất kể giá thị trường của các chứng khoán có liên quan tại thời điểm sáp nhập và bất kể phương pháp kế toán hợp nhất có được cho phép hay không. Ví dụ, những gì chúng ta thực sự đã trả trong vụ sáp nhập với Blue Chip để đổi lấy 40% “Goodwill” của See’s và báo Buffalo News cao hơn đáng kể so với con số 51,7 triệu đô được ghi vào sổ sách. Sự chênh lệch này tồn tại vì giá trị thị trường của các cổ phiếu Berkshire được đánh đổi trong vụ sáp nhập, thấp hơn giá trị nội tại của chúng, và giá trị kinh doanh nội tại mới là thứ xác định chi phí thực sự đối với chúng tôi.

Những doanh nghiệp có vẻ là người thắng cuộc theo quan điểm (1) có thể trở nên nhạt  nhòa khi nhìn từ quan điểm (2). Một doanh nghiệp tốt không phải lúc nào cũng là một thương vụ mua lại tốt – mặc dù đó là một điểm lý tưởng để tìm kiếm một thương vụ như vậy.

Chúng tôi sẽ cố gắng thâu tóm những doanh nghiệp có nền kinh tế hoạt động tuyệt vời, đo theo cách (1) và mang lại mức lợi nhuận hợp lý, đo theo cách (2). Các hệ quả về mặt kế toán sẽ hoàn toàn bị bỏ qua.

Vào cuối năm 1983, “Goodwill” ròng trên sổ sách kế toán của chúng ta đạt tổng cộng 62 triệu đô, bao gồm 79 triệu đô mà quý vị thấy được ghi trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán, và 17 triệu đô “goodwill” âm được bù trừ vào giá trị ghi sổ của khoản đầu tư tại Mutual Savings and Loan của chúng ta.

Chúng tôi tin rằng “goodwill” kinh tế ròng thực tế vượt xa con số kế toán 62 triệu đô.

LEAVE A COMMENT