Chuỗi bài dịch này nhằm phổ biến kiến thức gốc trực tiếp từ Warren Buffett. Khác với bài dịch các nơi khác (mà bạn có thể dễ dàng có bằng việc dùng AI hay Google Dịch), mình sẽ không dịch toàn phần mà chỉ dịch tập trung vào các phần mình đánh giá có liên quan đến kiến thức, triết lý đầu tư, kinh doanh, quản lý và bỏ qua các thông tin như kết quả vận hành trong năm, thay đổi nhân sự quản lý…, và kèm chút ý kiến bình luận cá nhân nếu có.
Thư gửi cổ đông năm 1988
Our gain in net worth during 1988 was $569 million, or 20.0%. Over the last 24 years (that is, since present management took over), our per-share book value has grown from $19.46 to $2,974.52, or at a rate of 23.0% compounded annually.
We’ve emphasized in past reports that what counts, however, is intrinsic business value – the figure, necessarily an estimate, indicating what all of our constituent businesses are worth. By our calculations, Berkshire’s intrinsic business value significantly exceeds its book value. Over the 24 years, business value has grown somewhat faster than book value; in 1988, however, book value grew the faster, by a bit.
Dịch: Giá trị tài sản ròng của chúng ta tăng 569 triệu đô trong năm 1988, tức 20,0%. Trong suốt 24 năm qua (kể từ khi ban quản lý hiện tại tiếp quản), giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu đã tăng từ 19,46 đô lên 2.974,52 đô, tức tăng trưởng lũy kế lãi kép hàng năm 23,0%.
Chúng tôi đã nhấn mạnh trong các báo cáo trước đây rằng điều thực sự quan trọng, là giá trị kinh doanh nội tại – một con số hoàn toàn mang tính ước lượng, ngụ ý về giá trị của toàn bộ các doanh nghiệp thành viên của chúng ta. Theo tính toán của chúng tôi, giá trị kinh doanh nội tại của Berkshire vượt giá trị sổ sách một cách đáng kể. Trong suốt 24 năm qua, giá trị kinh doanh nội tại tăng trưởng nhanh hơn một chút so với giá trị sổ sách; nhưng trong năm 1988, giá trị sổ sách lại tăng nhanh hơn một chút.
Berkshire’s past rates of gain in both book value and business value were achieved under circumstances far different from those that now exist. Anyone ignoring these differences makes the same mistake that a baseball manager would were he to judge the future prospects of a 42-year-old center fielder on the basis of his lifetime batting average.
Dịch: Tốc độ tăng trưởng trong quá khứ của Berkshire, xét cả về giá trị sổ sách lẫn giá trị kinh doanh nội tại, đã được đạt trong những hoàn cảnh rất khác biệt so với cái hiện đang tồn tại. Bất kỳ ai bỏ qua những khác biệt đó là mắc phải sai lầm như một huấn luyện viên bóng chày đánh giá triển vọng tương lai của một cầu thủ trung phong 42 tuổi dựa trên tỷ lệ đánh bóng trung bình trong suốt sự nghiệp đã qua của anh ta.
Important negatives affecting our prospects today are: (1) a less attractive stock market than generally existed over the past 24 years; (2) higher corporate tax rates on most forms of investment income; (3) a far more richly-priced market for the acquisition of businesses; and (4) industry conditions for Capital Cities/ABC, Inc., GEICO Corporation, and The Washington Post Company – Berkshire’s three permanent investments, constituting about one-half of our net worth – that range from slightly to materially less favorable than those existing five to ten years ago. All of these companies have superb management and strong properties. But, at current prices, their upside potential looks considerably less exciting to us today than it did some years ago.
Dịch: Những yếu tố tiêu cực quan trọng đang ảnh hưởng đến triển vọng hiện tại của chúng ta bao là: (1) một thị trường chứng khoán kém hấp dẫn hơn so với cái mà nhìn chung đã có trong 24 năm qua; (2) mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn đối với hầu hết các hình thức thu nhập từ đầu tư; (3) thị trường mua lại doanh nghiệp đắt đỏ hơn rất nhiều; và (4) các điều kiện ngành của các công ty Capital Cities/ABC, GEICO, và báo Washington Post – ba khoản đầu tư vĩnh viễn của Berkshire, chiếm khoảng một nửa giá trị tài sản ròng của chúng ta – là đang kém thuận lợi dao động từ mức hơi hơi cho đến rõ ràng, so với thời điểm 5 đến 10 năm trước. Tất cả các công ty này đều sở hữu đội ngũ quản lý xuất sắc và các tài sản mạnh mẽ. Nhưng, ở mức giá hiện tại, tiềm năng tăng trưởng của chúng ngày nay đối với chúng tôi trông kém hấp dẫn hơn nhiều so với vài năm trước .
The major problem we face, however, is a growing capital base. You’ve heard that from us before, but this problem, like age, grows in significance each year. (And also, just as with age, it’s better to have this problem continue to grow rather than to have it “solved.”)
Dịch: Tuy nhiên, vấn đề chính mà chúng ta phải đối mặt là quy mô vốn ngày càng tăng. Quý vị đã từng nghe cái này từ chúng tôi trước đây, nhưng vấn đề này, giống như tuổi tác, cứ tích tụ thêm tính đáng kể mỗi năm. (Và cũng y như chuyện tuổi tác, thà cứ để vấn đề này tiếp tục tích tụ, còn hơn là để nó được “giải quyết dứt điểm”.)
First, I’ll offer my customary disclaimer: Despite the shortcomings of generally accepted accounting principles (GAAP), I would hate to have the job of devising a better set of rules. The limitations of the existing set, however, need not be inhibiting: CEOs are free to treat GAAP statements as a beginning rather than an end to their obligation to inform owners and creditors – and indeed they should. After all, any manager of a subsidiary company would find himself in hot water if he reported barebones GAAP numbers that omitted key information needed by his boss, the parent corporation’s CEO. Why, then, should the CEO himself withhold information vitally useful to his bosses – the shareholder-owners of the corporation?
Dịch: Trước hết, tôi xin đưa ra lời tuyên bố miễn trừ trách nhiệm quen thuộc: Mặc cho các khuyết điểm của các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP), tôi sẽ ghét phải nhận việc thiết kế một bộ quy tắc tốt hơn thế. Những hạn chế của bộ quy tắc hiện tại, tuy vậy, không phải là rào cản: các CEO có quyền tự do coi các báo cáo GAAP chỉ là điểm khởi đầu, thay vì là điểm kết thúc cho nghĩa vụ thông tin của họ đối với các chủ sở hữu và chủ nợ – và thực sự là họ nên như vậy. Suy cho cùng, bất kỳ quản lý nào của một công ty con cũng sẽ gặp rắc rối lớn nếu ông ta chỉ báo cáo những số liệu thuần túy theo tiêu chuẩn GAAP mà bỏ qua những thông tin cốt lõi cần thiết cho sếp của ông ta, tức CEO của tập đoàn mẹ. Vậy thì tại sao chính vị CEO đó lại giữ lại những thông tin hữu ích một cách sống còn đối với những người sếp của mình – tức các cổ đông chủ sở hữu công ty?
What needs to be reported is data – whether GAAP, non-GAAP, or extra-GAAP – that helps financially-literate readers answer three key questions: (1) Approximately how much is this company worth? (2) What is the likelihood that it can meet its future obligations? and (3) How good a job are its managers doing, given the hand they have been dealt?
Dịch: Cái cần được báo cáo là dữ liệu – dù là theo chuẩn GAAP, không GAAP hay hơn cả GAAP – nhằm giúp những độc giả biết đọc tài chính trả lời ba câu hỏi then chốt: (1) Công ty này đáng giá khoảng bao nhiêu? (2) Khả năng nó có thể thực hiện được các nghĩa vụ trong tương lai là như thế nào? và (3) Các quản lý đang làm việc tốt đến đâu, xét trên những nguồn lực và hoàn cảnh thực tế mà họ có ban đầu?
In most cases, answers to one or more of these questions are somewhere between difficult and impossible to glean from the minimum GAAP presentation. The business world is simply too complex for a single set of rules to effectively describe economic reality for all enterprises, particularly those operating in a wide variety of businesses, such as Berkshire.
Dịch: Trong hầu hết các trường hợp, câu trả lời cho một hoặc nhiều câu hỏi trên nằm ở ranh giới giữa khó và bất khả thi nếu chỉ chắt lọc từ một báo cáo GAAP tối thiểu. Thế giới kinh doanh đơn giản là quá phức tạp để một bộ quy tắc duy nhất có thể mô tả hiệu quả về thực tế kinh tế cho tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là những bên hoạt động trong nhiều ngành nghề đa dạng như Berkshire.
Further complicating the problem is the fact that many managements view GAAP not as a standard to be met, but as an obstacle to overcome. Too often their accountants willingly assist them. (“How much,” says the client, “is two plus two?” Replies the cooperative accountant, “What number did you have in mind?”) Even honest and well-intentioned managements sometimes stretch GAAP a bit in order to present figures they think will more appropriately describe their performance. Both the smoothing of earnings and the “big bath” quarter are “white lie” techniques employed by otherwise upright managements.
Dịch: Càng khiến vấn đề trở nên phức tạp hơn là thực tế việc nhiều ban quản lý coi GAAP không phải là một tiêu chuẩn cần đạt được, mà là một trở ngại cần vượt qua. Quá thường xuyên các kế toán viên của họ sẵn lòng tiếp tay cho họ. (“Hai cộng hai bằng mấy?” – khách hàng hỏi. Người kế toán biết hợp tác trả lời: “Anh tính nên là con số mấy?”). Ngay cả những quản lý trung thực và có ý tốt đôi khi cũng linh hoạt co kéo GAAP một chút để trình bày những con số mà họ nghĩ là sẽ mô tả chính xác hơn hiệu quả hoạt động của mình. Cả việc làm mượt lợi nhuận lẫn có quý “tắm lớn” đều là những kỹ thuật “nói dối vô hại” được sử dụng bởi những quản lý, nếu không phải vì chúng, sẽ là ngay thẳng.
• Chú thích: “làm mượt lợi nhuận” chỉ việc các quản lý san bớt lãi, lỗ của mỗi quý/năm sang quý/năm sau, để khiến biểu đồ thể hiện lợi nhuận qua thời gian trông phẳng và đều hơn thực tế; qua đó thu hút những nhà đầu tư ưu tiên sự ổn định, dễ tính toán giá trị doanh nghiệp. Còn “tắm lớn” (big bath) là việc các quản lý phóng đại thua lỗ (ví dụ như bằng cách ghi nhận chi phí trước, còn doanh số thì đẩy lùi lại) trong một quý/năm để khiến quý/năm sau, dù cho có lãi hay vẫn lỗ, trông khả quan hơn; qua đó thu hút các nhà đầu tư nghĩ là doanh nghiệp quay đầu thành công, hoặc thổi phồng gói thưởng của quản lý (do thường khi lỗ thì dù lỗ to hay nhỏ, tiền thưởng của quản lý vẫn chỉ là không đồng, còn khi lãi thì tiền thưởng sẽ tăng tỷ lệ theo số lãi).
Then there are managers who actively use GAAP to deceive and defraud. They know that many investors and creditors accept GAAP results as gospel. So these charlatans interpret the rules “imaginatively” and record business transactions in ways that technically comply with GAAP but actually display an economic illusion to the world.
Dịch: Rồi còn có những quản lý chủ động lợi dụng GAAP để lừa dối và gian lận. Chúng biết rằng nhiều nhà đầu tư và chủ nợ coi kết quả báo cáo theo GAAP như là chân lý kinh thánh. Vậy nên những kẻ lừa đảo này đã diễn giải các quy tắc một cách sáng tạo và ghi nhận các giao dịch kinh doanh theo những cách tuy tuân thủ GAAP về mặt kỹ thuật, nhưng thực chất là vẽ ra thế giới một ảo tưởng về mặt kinh tế.
As long as investors – including supposedly sophisticated institutions – place fancy valuations on reported “earnings” that march steadily upward, you can be sure that some managers and promoters will exploit GAAP to produce such numbers, no matter what the truth may be. Over the years, Charlie and I have observed many accounting-based frauds of staggering size. Few of the perpetrators have been punished; many have not even been censured. It has been far safer to steal large sums with a pen than small sums with a gun.
Dịch: Chừng nào các nhà đầu tư – bao gồm cả các tổ chức mà được cho là sành sỏi – còn định giá cao ngất ngưởng cho những khoản “lợi nhuận” được báo cáo là liên tục tăng trưởng đều đặn, thì quý vị có thể chắc chắn rằng một số quản lý và các bên quảng bá sẽ lợi dụng GAAP để tạo ra những con số đúng như vậy, bất chấp sự thật là thế nào. Qua nhiều năm, Charlie và tôi đã chứng kiến vô số vụ gian lận kế toán với quy mô kinh ngạc. Rất ít thủ phạm bị trừng phạt; nhiều người thậm chí còn chẳng bị khiển trách. Cho đến giờ, nó là an toàn hơn nhiều khi ăn cướp khoản tiền lớn bằng bút, so với ăn cướp khoản tiền nhỏ bằng súng.
This change underscores the need for companies also to report segmented data: The greater the number of economically diverse business operations lumped together in conventional financial statements, the less useful those presentations are and the less able investors are to answer the three questions posed earlier. Indeed, the only reason we ever prepare consolidated figures at Berkshire is to meet outside requirements. On the other hand, Charlie and I constantly study our segment data.
Dịch: Sự thay đổi (về yêu cầu báo cáo kế toán) này càng nhấn mạnh nhu cầu của các công ty trong việc báo cáo dữ liệu theo từng phân khúc: Khi càng có nhiều hoạt động kinh doanh đa dạng về mặt kinh tế bị gộp chung lại với nhau trong các báo cáo tài chính thông thường, thì các báo cáo đó càng trở nên ít hữu dụng, và các nhà đầu tư càng ít có khả năng trả lời ba câu hỏi đã đặt ra ở trên. Đúng thế, lý do duy nhất khiến chúng tôi phải lập các số liệu hợp nhất tại Berkshire là để đáp ứng các yêu cầu từ bên ngoài. Ngược lại, Charlie và tôi liên tục nghiên cứu dữ liệu phân khúc của mình.
Now that we are required to bundle more numbers in our GAAP statements, we have decided to publish additional supplementary information that we think will help you measure both business value and managerial performance. (Berkshire’s ability to discharge its obligations to creditors – the third question we listed – should be obvious, whatever statements you examine.) In these supplementary presentations, we will not necessarily follow GAAP procedures, or even corporate structure. Rather, we will attempt to lump major business activities in ways that aid analysis but do not swamp you with detail. Our goal is to give you important information in a form that we would wish to get it if our roles were reversed.
Dịch: Giờ đây, khi chúng tôi buộc phải gộp thêm nhiều con số vào các báo cáo theo chuẩn GAAP, chúng tôi quyết định công bố thêm thông tin bổ sung mà chúng tôi nghĩ rằng sẽ giúp quý vị đo lường được cả giá trị doanh nghiệp lẫn hiệu quả quản lý. (Khả năng thực hiện các nghĩa vụ đối với chủ nợ của Berkshire – câu hỏi thứ ba mà chúng tôi liệt kê – nên là rõ ràng ở bất kỳ báo cáo nào quý vị xem). Trong các phần trình bày bổ sung này, chúng tôi sẽ không nhất thiết tuân theo các quy trình GAAP, hay thậm chí là cấu trúc doanh nghiệp. Thay vào đó, chúng tôi sẽ cố gắng gom các hoạt động kinh doanh chính theo những cách giúp ích cho việc phân tích, nhưng không làm quý vị bị ngợp trong đống chi tiết. Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp cho quý vị những thông tin quan trọng dưới hình thức mà chính chúng tôi mong muốn sẽ nhận được nếu vị trí của chúng ta được hoán đổi cho nhau.
To those of you who are uninterested in accounting, I apologize for this dissertation. I realize that many of you do not pore over our figures, but instead hold Berkshire primarily because you know that: (1) Charlie and I have the bulk of our money in Berkshire; (2) we intend to run things so that your gains or losses are in direct proportion to ours; and (3) the record has so far been satisfactory. There is nothing necessarily wrong with this kind of “faith” approach to investing. Other shareholders, however, prefer an “analysis” approach and we want to supply the information they need. In our own investing, we search for situations in which both approaches give us the same answer.
Dịch: Với những ai không mấy hứng thú với kế toán, tôi xin lỗi vì bài luận dài dòng này. Tôi hiểu rằng nhiều người trong số quý vị không nghiền ngẫm các con số của chúng tôi, mà thay vào đó, quý vị nắm giữ cổ phiếu Berkshire chủ yếu vì biết: (1) Charlie và tôi để phần lớn tài sản của mình tại Berkshire; (2) chúng tôi dự định sẽ điều hành mọi thứ sao cho lãi hay lỗ của quý vị sẽ tỷ lệ thuận trực tiếp với chúng tôi; và (3) kết quả đạt được cho đến nay là thỏa đáng. Không nhất thiết phải có gì sai với phương pháp đầu tư dựa trên “niềm tin” này. Các cổ đông khác, tuy vậy, lại ưu tiên phương pháp “phân tích” và chúng tôi muốn cung cấp những thông tin mà họ cần. Trong hoạt động đầu tư của chính mình, chúng tôi tìm kiếm những cơ hội mà cả hai phương pháp tiếp cận này đều cho ra cùng một câu trả lời.
At Berkshire, associations like these last a long time. We do not remove superstars from our lineup merely because they have attained a specified age – whether the traditional 65, or the 95 reached by Mrs. B on the eve of Hanukkah in 1988. Superb managers are too scarce a resource to be discarded simply because a cake gets crowded with candles. Moreover, our experience with newly-minted MBAs has not been that great. Their academic records always look terrific and the candidates always know just what to say; but too often they are short on personal commitment to the company and general business savvy. It’s difficult to teach a new dog old tricks.
Dịch: Tại Berkshire, những mối quan hệ hợp tác như thế này luôn kéo dài theo thời gian. Chúng tôi không bao giờ loại bỏ những siêu sao khỏi đội hình của mình chỉ vì họ đã đạt một độ tuổi nhất định – dù đó là 65 theo truyền thống, hay 95 như Mrs B đạt được vào đêm Hanukkah năm 1988. Những quản lý xuất chúng là nguồn tài nguyên quá khan hiếm để bị bỏ đi chỉ vì bánh sinh nhật cắm quá chật nến. Hơn thế nữa, trải nghiệm của chúng tôi với những thạc sĩ quản trị kinh doanh mới ra lò cũng không mấy tốt đẹp. Học bạ của họ luôn trông tuyệt vời và các ứng viên luôn biết phải nói gì; nhưng họ lại quá thường xuyên thiếu sự gắn bó cá nhân với công ty và sự nhạy bén trong kinh doanh. Nó là khó để dạy một chú chó mới những mẹo cũ.
In 1948 Mr. Friedman purchased Borsheim’s, a small Omaha jewelry store. He was joined in the business by his son, Ike, in 1950 and, as the years went by, Ike’s son, Alan, and his sons-in-law, Marvin Cohn and Donald Yale, came in also.
You won’t be surprised to learn that this family brings to the jewelry business precisely the same approach that the Blumkins bring to the furniture business. The cornerstone for both enterprises is Mrs. B’s creed: “Sell cheap and tell the truth.” Other fundamentals at both businesses are: (1) single store operations featuring huge inventories that provide customers with an enormous selection across all price ranges, (2) daily attention to detail by top management, (3) rapid turnover, (4) shrewd buying, and (5) incredibly low expenses. The combination of the last three factors lets both stores offer everyday prices that no one in the country comes close to matching.
Dịch: Năm 1948, ông Friedman đã mua lại Borsheim’s, một cửa hàng trang sức nhỏ tại Omaha. Đến năm 1950, con trai ông là Ike vào làm cùng cha, và theo năm tháng, đến lượt con trai của Ike là Alan, cùng các con rể của ông bao gồm Marvin Cohn và Donald Yale, cũng lần lượt gia nhập.
Quý vị sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng gia đình này đã mang đến với ngành kinh doanh trang sức đúng y như những gì gia đình Blumkin áp dụng cho ngành kinh doanh đồ nội thất. Nền móng cốt lõi của cả hai doanh nghiệp đều dựa trên phương châm của Mrs B: “Bán rẻ và nói thật.” Những yếu tố cơ bản khác của cả hai cửa hàng bao gồm: (1) mô hình vận hành chỉ một cửa hàng duy nhất nhưng với kho hàng khổng lồ, mang cho khách hàng sự lựa chọn phong phú ở mọi phân khúc giá. (2) ban quản lý cấp cao sâu sát đến từng chi tiết hàng ngày. (3) tốc độ quay vòng nhanh chóng. (4) chiến lược mua hàng sắc sảo. (5) Mức chi phí vận hành vô cùng thấp. Sự kết hợp của ba yếu tố cuối cùng cho phép cả hai cửa hàng đưa ra những mức giá mỗi ngày mà không một đối thủ nào trên cả nước sánh kịp.
Most people, no matter how sophisticated they are in other matters, feel like babes in the woods when purchasing jewelry. They can judge neither quality nor price. For them only one rule makes sense: If you don’t know jewelry, know the jeweler.
I can assure you that those who put their trust in Ike Friedman and his family will never be disappointed. The way in which we purchased our interest in their business is the ultimate testimonial. Borsheim’s had no audited financial statements; nevertheless, we didn’t take inventory, verify receivables or audit the operation in any way. Ike simply told us what was so – – and on that basis we drew up a one-page contract and wrote a large check.
Dịch: Hầu hết mọi người, dù có sành sỏi đến đâu trong các lĩnh vực khác, đều cảm thấy ngơ ngác như đứa trẻ lạc trong rừng khi đi mua trang sức. Họ không thể đánh giá được chất lượng cũng như giá cả. Đối với họ, chỉ có một quy tắc duy nhất là hợp lý: Nếu mình không biết về trang sức, hãy biết về người bán trang sức.
Tôi có thể đảm bảo với quý vị rằng những ai đặt niềm tin vào Ike Friedman và gia đình ông sẽ không bao giờ phải thất vọng. Cách thức chúng tôi mua phần sở hữu của mình trong doanh nghiệp của họ chính là minh chứng hùng hồn nhất. Borsheims chưa hề có báo cáo tài chính được kiểm toán; thế nhưng, chúng tôi chẳng cần kiểm kê hàng tồn kho, xác minh các khoản phải thu hay kiểm toán hoạt động kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào. Ike đơn giản là nói cho chúng tôi các thứ như thế nào – – và dựa trên cơ sở đó, chúng tôi lập một hợp đồng một trang rồi ký một tấm séc giá trị lớn.
• Bình luận: thương vụ Berkshire mua Borsheims có rất ít thông tin công khai, thậm chí giá mua cũng không có. Nhưng dựa trên những điểm tương đồng với thương vụ Buffett mua Nebraska Furniture Mart từ Mrs B, họ hàng của nhà Friedman, thì ta có thể suy luận khá chắc chắn là việc Buffett đồng ý mua doanh nghiệp chưa từng kiểm toán với điều khoản rất đơn giản, hoàn toàn không phải là ông cả tin và không nghiên cứu, làm bài tập trước.
The property-casualty insurance industry is not only subnormally profitable, it is subnormally popular. (As Sam Goldwyn philosophized: “In life, one must learn to take the bitter with the sour.”) One of the ironies of business is that many relatively-unprofitable industries that are plagued by inadequate prices habitually find themselves beat upon by irate customers even while other, hugely profitable industries are spared complaints, no matter how high their prices.
Dịch: Ngành bảo hiểm tài sản-thiệt hại không chỉ có tỷ suất lợi nhuận dưới bình thường, mà mức được ưa chuộng cũng dưới bình thường. (Như Sam Goldwyn từng luận: “Trong đời, người ta phải học cách chấp nhận cả cái đắng lẫn cái chua cay”.) Có một trớ trêu trong kinh doanh là nhiều ngành kém lợi nhuận, vốn lao đao vì mức giá không đủ, lại thường xuyên thấy mình phải chịu trách mắng từ những khách hàng giận dữ; trong khi một số ngành khác kiếm lời siêu khủng lại được tha không bị phàn nàn, bất kể giá cả của họ có trên trời đến mức nào.
Take the breakfast cereal industry, whose return on invested capital is more than double that of the auto insurance industry (which is why companies like Kellogg and General Mills sell at five times book value and most large insurers sell close to book). The cereal companies regularly impose price increases, few of them related to a significant jump in their costs. Yet not a peep is heard from consumers. But when auto insurers raise prices by amounts that do not even match cost increases, customers are outraged. If you want to be loved, it’s clearly better to sell high-priced corn flakes than low-priced auto insurance.
Dịch: Hãy nhìn vào ngành ngũ cốc ăn sáng, nơi mà tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư cao hơn gấp đôi so với ngành bảo hiểm ô tô (đây là lý do tại sao cổ phiếu các công ty như Kellogg và General Mills được bán với giá gấp 5 lần giá trị sổ sách, trong khi hầu hết các công ty bảo hiểm lớn chỉ bán quanh mức giá trị sổ sách). Các công ty ngũ cốc thường xuyên tăng giá, ít khi bởi vì chi phí sản xuất bị nhảy vọt. Vậy mà, chẳng có một tiếng than phiền nào từ người tiêu dùng. Nhưng khi các công ty bảo hiểm ô tô tăng giá ở mức thậm chí còn chẳng bù nổi phần chi phí leo thang, thì khách hàng lại nổi trận lôi đình. Nếu quý vị muốn được mọi người yêu quý, rõ ràng nên đi bán bánh ngũ cốc giá cao, hơn là đi bán bảo hiểm ô tô giá rẻ.
In selecting marketable securities for our insurance companies, we can choose among five major categories: (1) long-term common stock investments, (2) medium-term fixed-income securities, (3) long-term fixed-income securities, (4) short-term cash equivalents, and (5) short-term arbitrage commitments.
Dịch: Khi lựa chọn các loại chứng khoán có thể giao dịch cho các công ty bảo hiểm của mình, chúng tôi có thể chọn trong năm danh mục chính: (1) đầu tư vào cổ phiếu phổ thông dài hạn; (2) chứng khoán có thu nhập cố định dài hạn; (3) chứng khoán có thu nhập cố định trung hạn; (4) các khoản tương đương tiền ngắn hạn; và (5) các cam kết kinh doanh chênh lệch giá ngắn hạn.
We have no particular bias when it comes to choosing from these categories. We just continuously search among them for the highest after-tax returns as measured by “mathematical expectation,” limiting ourselves always to investment alternatives we think we understand. Our criteria have nothing to do with maximizing immediately reportable earnings; our goal, rather, is to maximize eventual net worth.
Dịch: Chúng tôi không có sự thiên vị đặc biệt nào khi chọn giữa các danh mục này. Chúng tôi chỉ liên tục tìm kiếm trong số chúng những khoản lợi nhuận sau thuế cao nhất được đo lường bằng “dự tính trên toán học”, và luôn tự giới hạn bản thân trong những phương án đầu tư thay thế mà chúng tôi nghĩ là mình hiểu rõ. Tiêu chí của chúng tôi không liên quan gì đến việc tối đa hóa lợi nhuận có thể báo cáo ngay lập tức; trái lại, mục tiêu của chúng tôi là tối đa hóa giá trị tài sản ròng cuối cùng.
Their performance, which we have observed at close range, contrasts vividly with that of many CEOs, which we have fortunately observed from a safe distance. Sometimes these CEOs clearly do not belong in their jobs; their positions, nevertheless, are usually secure. The supreme irony of business management is that it is far easier for an inadequate CEO to keep his job than it is for an inadequate subordinate.
Dịch: Thành quả của họ (CEO của ba khoản đầu tư vĩnh viễn nói ở trên), điều mà chúng tôi có cơ hội quan sát ở cự ly gần, tương phản một cách sống động với thành quả của nhiều CEO khác, những người mà chúng tôi may mắn là chỉ quan sát từ một khoảng cách an toàn. Đôi khi, các CEO này rõ ràng không hề xứng đáng với vị trí của họ; thế nhưng, chiếc ghế của họ thường lại rất vững chắc. Nghịch lý tối thượng trong quản trị doanh nghiệp là, nó là dễ dàng hơn nhiều cho một CEO không đủ trình độ giữ ghế của mình, so với một nhân viên cấp dưới không đủ trình độ.
If a secretary, say, is hired for a job that requires typing ability of at least 80 words a minute and turns out to be capable of only 50 words a minute, she will lose her job in no time. There is a logical standard for this job; performance is easily measured; and if you can’t make the grade, you’re out. Similarly, if new sales people fail to generate sufficient business quickly enough, they will be let go. Excuses will not be accepted as a substitute for orders.
Dịch: Nếu một thư ký, ví dụ, được tuyển dụng cho một công việc yêu cầu tốc độ đánh máy tối thiểu là 80 từ mỗi phút nhưng thực tế chỉ đạt 50 từ mỗi phút, cô ấy sẽ bị sa thải nhanh chóng. Công việc này có một tiêu chuẩn hợp logic; hiệu suất dễ dàng đo lường; và nếu ai không đạt yêu cầu, thì sẽ bị loại. Tương tự như vậy, nếu các nhân viên kinh doanh mới không thể mang lại đủ doanh số trong một thời gian ngắn, họ sẽ bị cho thôi việc. Những lý do bào chữa sẽ không được chấp nhận thay thế cho đơn hàng.
However, a CEO who doesn’t perform is frequently carried indefinitely. One reason is that performance standards for his job seldom exist. When they do, they are often fuzzy or they may be waived or explained away, even when the performance shortfalls are major and repeated. At too many companies, the boss shoots the arrow of managerial performance and then hastily paints the bullseye around the spot where it lands.
Dịch: Tuy nhiên, một CEO không đạt hiệu quả lại thường được dung túng vô thời hạn. Một lý do là vì các tiêu chuẩn đánh giá thành quả của công việc này hiếm khi tồn tại. Mà nếu có, chúng cũng thường mập mờ, hoặc có thể bị ngó lơ và bao biện, ngay cả khi những yếu kém trong công việc là lớn và lặp đi lặp lại. Tại quá nhiều công ty, sếp cứ bắn mũi tên thành quả quản lý, rồi vội vàng vẽ hồng tâm xung quanh chỗ mà mũi tên vừa cắm vào.
Another important, but seldom recognized, distinction between the boss and the foot soldier is that the CEO has no immediate superior whose performance is itself getting measured. The sales manager who retains a bunch of lemons in his sales force will soon be in hot water himself. It is in his immediate self-interest to promptly weed out his hiring mistakes. Otherwise, he himself may be weeded out. An office manager who has hired inept secretaries faces the same imperative.
Dịch: Một sự khác biệt quan trọng khác, nhưng lại ít khi được nhận ra, giữa sếp và lính quèn là CEO không có một cấp trên trực tiếp nào mà thành quả công việc của người đó bị đánh giá. Một quản lý kinh doanh mà giữ một đám vô dụng trong đội ngũ kinh doanh của mình, sẽ sớm gặp rắc rối lớn. Nó là lợi ích trực tiếp của bản thân anh ta khi nhanh chóng đào thải những sai lầm trong tuyển dụng của mình. Nếu không, chính anh ta sẽ là người bị đào thải. Tương tự, một quản lý văn phòng tuyển phải những thư ký không đủ trình độ cũng đối mặt với áp lực giống vậy.
But the CEO’s boss is a Board of Directors that seldom measures itself and is infrequently held to account for substandard corporate performance. If the Board makes a mistake in hiring, and perpetuates that mistake, so what? Even if the company is taken over because of the mistake, the deal will probably bestow substantial benefits on the outgoing Board members. (The bigger they are, the softer they fall.)
Dịch: Nhưng cấp trên của CEO là một Hội đồng quản trị mà hiếm khi tự đánh giá bản thân và cũng ít khi phải chịu trách nhiệm cho thành quản kém cỏi của doanh nghiệp. Nếu Hội đồng quản trị sai lầm trong việc tuyển dụng và cứ tiếp diễn sai lầm đó, thì đã sao? Ngay cả khi công ty bị thâu tóm vì chính sai lầm này, thương vụ đó có lẽ vẫn mang lại những lợi ích đáng kể cho các thành viên Hội đồng quản trị sắp mãn nhiệm. (Họ càng to, thì ngã càng êm.)
Finally, relations between the Board and the CEO are expected to be congenial. At board meetings, criticism of the CEO’s performance is often viewed as the social equivalent of belching. No such inhibitions restrain the office manager from critically evaluating the substandard typist.
Dịch: Cuối cùng, mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và CEO thường được kỳ vọng là sẽ hòa nhã. Tại các cuộc họp hội đồng, chỉ trích thành quả của CEO thường bị xem là như một việc tương đương về mặt xã giao với ợ hơi. Không hề có rào cản tương tự nào ngăn cản quản lý văn phòng đánh giá khắt khe một nhân viên đánh máy dưới tiêu chuẩn.
These points should not be interpreted as a blanket condemnation of CEOs or Boards of Directors: Most are able and hard-working, and a number are truly outstanding. But the management failings that Charlie and I have seen make us thankful that we are linked with the managers of our three permanent holdings. They love their businesses, they think like owners, and they exude integrity and ability.
Dịch: Những điểm này không nên được hiểu là một lời lên án toàn bộ các CEO hay Hội đồng quản trị: Phần lớn trong số họ là những người có năng lực và chăm chỉ, và một số là thực sự xuất sắc. Nhưng những thất bại trong quản lý mà Charlie và tôi từng chứng kiến khiến chúng tôi cảm thấy biết ơn vì đã được gắn kết với những người quản lý tại ba công ty sở hữu vĩnh viễn của mình. Họ yêu doanh nghiệp của họ, họ tư duy như những người chủ, và họ toát lên sự chính trực và năng lực.
In 1988 we made major purchases of Federal Home Loan Mortgage Pfd. (“Freddie Mac”) and Coca Cola. We expect to hold these securities for a long time. In fact, when we own portions of outstanding businesses with outstanding managements, our favorite holding period is forever. We are just the opposite of those who hurry to sell and book profits when companies perform well but who tenaciously hang on to businesses that disappoint. Peter Lynch aptly likens such behavior to cutting the flowers and watering the weeds. Our holdings of Freddie Mac are the maximum allowed by law, and are extensively described by Charlie in his letter. In our consolidated balance sheet these shares are carried at cost rather than market, since they are owned by Mutual Savings and Loan, a non-insurance subsidiary.
Dịch: Năm 1988 chúng tôi đã thực hiện các thương vụ lớn mua cổ phần của Công ty cổ phần cho vay thế chấp mua nhà Liên bang (“Freddie Mac”) và Coca-Cola. Chúng tôi dự kiến sẽ giữ những chứng khoán này trong một thời gian dài. Thực tế là, khi sở hữu cổ phần của những doanh nghiệp xuất sắc với bộ máy quản lý xuất sắc, thời gian nắm giữ ưa thích của chúng tôi là mãi mãi. Chúng tôi hoàn toàn trái ngược với những người nóng vội bán để chốt lợi nhuận khi các công ty hoạt động tốt, nhưng lại kiên trì cố giữ những doanh nghiệp gây thất vọng. Peter Lynch đã so sánh khéo léo việc đó giống như “nhổ hoa và tưới cỏ dại”. Lượng cổ phiếu Freddie Mac mà chúng ta nắm giữ đạt mức tối đa được pháp luật cho phép, và được mô tả chi tiết bởi Charlie trong phần thư của ông ấy. Trên bảng cân đối kế toán hợp nhất của chúng tôi, các cổ phiếu này được ghi nhận theo giá mua gốc thay vì giá thị trường, do chúng thuộc sở hữu của Mutual Savings and Loan, một công ty con không thuộc lĩnh vực bảo hiểm.
We continue to concentrate our investments in a very few companies that we try to understand well. There are only a handful of businesses about which we have strong long-term convictions. Therefore, when we find such a business, we want to participate in a meaningful way. We agree with Mae West: “Too much of a good thing can be wonderful.”
Dịch: Chúng tôi tiếp tục tập trung các khoản đầu tư của mình vào một số rất ít công ty mà chúng tôi cố gắng thấu hiểu tường tận. Chỉ có vài doanh nghiệp đếm trên đầu ngón tay mà chúng tôi có niềm tin mạnh mẽ trong dài hạn. Vì vậy, khi tìm thấy một doanh nghiệp như thế, chúng tôi muốn tham gia vào đó một lượng đáng kể. Chúng tôi đồng tình với Mae West: “Quá nhiều một thứ tốt thì có thể lại là tuyệt vời.”
In past reports we have told you that our insurance subsidiaries sometimes engage in arbitrage as an alternative to holding short-term cash equivalents. We prefer, of course, to make major long-term commitments, but we often have more cash than good ideas. At such times, arbitrage sometimes promises much greater returns than Treasury Bills and, equally important, cools any temptation we may have to relax our standards for long-term investments. (Charlie’s sign off after we’ve talked about an arbitrage commitment is usually: “Okay, at least it will keep you out of bars.”)
Dịch: Trong các báo cáo trước đây, chúng tôi đã chia sẻ với quý vị rằng các công ty con kinh doanh bảo hiểm của chúng ta đôi khi tham gia vào hoạt động kinh doanh chênh lệch giá như một giải pháp thay thế cho việc nắm giữ các khoản tương đương tiền ngắn hạn. Tất nhiên, chúng tôi ưu tiên thực hiện các cam kết dài hạn quy mô lớn, nhưng chúng tôi thường xuyên rơi vào tình trạng thừa tiền mặt hơn là thừa ý tưởng hay. Vào những thời điểm như vậy, kinh doanh chênh lệch giá đôi khi hứa hẹn mang lại tỷ suất sinh lời cao hơn nhiều so với Tín phiếu Kho bạc, và quan trọng không kém là nó làm nguội bất kỳ sự cám dỗ nào có thể khiến chúng tôi hạ thấp các tiêu chuẩn của mình đối với các khoản đầu tư dài hạn. (Câu kết của Charlie sau khi chúng tôi thảo luận về một cam kết kinh doanh chênh lệch giá thường là: “Được rồi, ít nhất thì nó sẽ giữ cho ông khỏi các quán bar.”)
During 1988 we made unusually large profits from arbitrage, measured both by absolute dollars and rate of return. Our pre-tax gain was about $78 million on average invested funds of about $147 million.
This level of activity makes some detailed discussion of arbitrage and our approach to it appropriate. Once, the word applied only to the simultaneous purchase and sale of securities or foreign exchange in two different markets. The goal was to exploit tiny price differentials that might exist between, say, Royal Dutch stock trading in guilders in Amsterdam, pounds in London, and dollars in New York. Some people might call this scalping; it won’t surprise you that practitioners opted for the French term, arbitrage.
Dịch: Trong năm 1988, chúng tôi kiếm được lợi nhuận lớn bất thường từ hoạt động kinh doanh chênh lệch giá, xét cả về số tiền tuyệt đối lẫn tỷ suất sinh lời. Lợi nhuận trước thuế của chúng ta đạt khoảng 78 triệu đô trên số vốn đầu tư bình quân khoảng 147 triệu đô.
Mức hoạt động này là khiến một cuộc thảo luận chi tiết về kinh doanh chênh lệch giá và phương pháp tiếp cận nó của chúng tôi, là phù hợp. Trước đây, thuật ngữ này chỉ áp dụng cho việc mua và bán đồng thời các loại chứng khoán hoặc ngoại hối trên hai thị trường khác nhau. Mục tiêu là khai thác các mức chênh lệch giá cực nhỏ có thể tồn tại giữa, ví dụ, cổ phiếu của Royal Dutch đang được giao dịch bằng đồng guilder ở Amsterdam, đồng bảng ở London và đồng đô-la ở New York. Một số người có thể gọi nó là đầu cơ ăn chênh lệch nhỏ; nhưng quý vị hẳn sẽ không ngạc nhiên khi thấy những người hành nghề này lại chọn dùng một thuật ngữ tiếng Pháp, arbitrage.
• Chú thích: scalping, tạm dịch là đầu cơ ăn chênh lệch nhỏ, chỉ việc những người giao dịch chứng khoán (trader), sử dụng phân tích kỹ thuật, đặt các lệnh mua và bán trong một khoảng thời gian rất ngắn để chốt lời chênh lệch nhỏ. Ví dụ một người phân tích kỹ thuật nghĩ là một cổ phiểu đang có đà sóng lên, đặt lệnh mua ở giá thị trường (market order) và đặt lệnh bán ở giá thị trường chỉ vài phút, thậm chí vài giây sau đó. Trừ những trường hợp giao dịch nội gián (insider trading) hay các thủ thuật phạm pháp như bơm và xả (pump and dump), khoản lời giữa các chênh lệch scalping thường rất nhỏ, nhưng vì thời gian chốt lời ngắn, nên trong một ngày, những traders cố gắng thực hiện thật nhiều giao dịch như vậy để tích tiểu thành đại.
Kinh doanh chênh lệch giá arbitrage với cổ phiếu Royal Dutch Shell: Shell là một công ty đa quốc giá với cổ phiếu niêm yết ở cả ba thị trường chứng khoán: London – Anh, Amsterdam – Hà Lan, và New York, Mỹ. Vì cổ phiếu niêm yết ở ba thị trường này là của cùng một công ty và quyền lợi các cổ phiếu là y hệt nhau, nên về lý thì giá của cổ phiếu, dù được bán tại mỗi thị trường với đồng tiền địa phương, sau khi chuyển đổi tỷ giá ngoại tê, phải bằng nhau – ví dụ nếu tỷ giá 1 bảng Anh đổi 1,1 đô Mỹ, thì nếu cổ phiếu Shell bán ở thị trường London với giá 100 bảng, thì ở thị trường New York giá cổ phiếu Shell cũng phải được bán với giá 110 đô. Tuy nhiên thực tế thì việc này không phải lúc nào cũng đã như vậy. Nên nếu khi tỷ giá 1 bảng Anh đổi 1,1 đô Mỹ, mà cổ phiếu Shell ở London là 100 bảng, còn ở New York là 111 đô. Thì nhà đầu tư có thể tiến hành kinh doanh chênh lệch giá bằng việc (1) mua cổ phiếu ở London giá 100 bảng, (2) chuyển cổ phiếu này qua thị trường New York bán giá 111 đô, (3) lấy 110 đô đi mua 100 bảng để tiếp tục mua cổ phiếu Shell ở London và giữ 1 đô lời chênh lệch trên mỗi cổ phiếu giao dịch. Vì giao dịch này là kiếm lợi không rủi ro nên một khi bị phát hiện sẽ bị những người tham gia thị trường khai thác đến cạn kiệt và biến mất, nên các thị trường phát triển hiện đại hầu như không còn tồn tại ở mức đáng kể nữa.
Since World War I the definition of arbitrage – or “risk arbitrage,” as it is now sometimes called – has expanded to include the pursuit of profits from an announced corporate event such as sale of the company, merger, recapitalization, reorganization, liquidation, self-tender, etc. In most cases the arbitrageur expects to profit regardless of the behavior of the stock market. The major risk he usually faces instead is that the announced event won’t happen.
Dịch: Kể từ sau Thế Chiến Một, định nghĩa về kinh doanh chênh lệch giá – hay hiện nay đôi khi còn được gọi là kinh doanh chên lệch giá có rủi ro – đã mở rộng bao gồm cả việc tìm kiếm lợi nhuận từ một sự kiện doanh nghiệp đã được công bố, chẳng hạn như bán công ty, sáp nhập, tái cấu trúc vốn, tái tổ chức doanh nghiệp, thanh lý tài sản, tự chào mua bản thân… Trong hầu hết các trường hợp, người kinh doanh chênh lệch giá kỳ vọng sẽ kiếm lời bất kể hành vi của thị trường cổ phiếu ra sao. Thay vào đó, rủi ro lớn nhất mà họ thường phải đối mặt là sự kiện đã công bố đó sẽ không diễn ra.
• Chú thích: self-tender, tạm dịch là tự chào mua bản thân, là việc hội đồng quản trị đề xuất mua lại cổ phiếu của các cổ đông với ở mức premium cao hơn giá hiện tại trên thị trường. Khác việc công ty tự mua lại cổ phiếu (stock buy back) – cái mà giá cổ phiếu sẽ được mua tại mức giá thị trường, việc tự chào mua bản thân ở mức giá premium này thường là sự phản ứng khi có lời đề nghị mua doanh nghiệp từ một công ty khác. Do hội đồng quản trị không muốn bán cho công ty kia, nhưng sợ công ty kia sẽ chào trực tiếp tới các cổ đông và được cổ đông chấp thuận, nên hội đồng quản trị cũng chào tới cổ đông mức giá đề xuất mua lại của họ để cạnh tranh. Ngoài ra việc này cũng có thể xảy ra nếu hội đồng quản trị muốn hạ niêm yết trên sàn để thành công ty tư nhân.
Some offbeat opportunities occasionally arise in the arbitrage field. I participated in one of these when I was 24 and working in New York for Graham-Newman Corp. Rockwood & Co., a Brooklyn based chocolate products company of limited profitability, had adopted LIFO inventory valuation in 1941 when cocoa was selling for 5¢ per pound. In 1954 a temporary shortage of cocoa caused the price to soar to over 60¢. Consequently Rockwood wished to unload its valuable inventory – quickly, before the price dropped. But if the cocoa had simply been sold off, the company would have owed close to a 50% tax on the proceeds.
Dịch: Thỉnh thoảng, một số cơ hội lạ xuất hiện trong mảng kinh doanh chênh lệch giá. Tôi từng tham gia vào một thương vụ như vậy khi 24 tuổi và đang làm việc tại New York cho Graham-Newman Corp. Rockwood & Co., một công ty sản xuất các sản phẩm từ sô cô la, trụ sở tại Brooklyn với tỷ suất lợi nhuận khá hạn chế, đã áp dụng phương pháp định giá hàng tồn kho LIFO (vào sau, ra trước) từ năm 1941 khi giá ca cao được bán ở mức 5 xu/pound. Đến năm 1954, tình trạng khan hiếm ca cao tạm thời đã khiến giá tăng vọt lên tới hơn 60 xu. Do đó, Rockwood muốn giải phóng lượng hàng tồn kho có giá trị lớn này – nhanh trước khi giá rớt. Tuy nhiên, nếu lượng ca cao tồn kho chỉ đơn thuần được bán đi, công ty sẽ phải nộp khoản thuế lên tới 50% trên số tiền thu được.
The 1954 Tax Code came to the rescue. It contained an arcane provision that eliminated the tax otherwise due on LIFO profits if inventory was distributed to shareholders as part of a plan reducing the scope of a corporation’s business. Rockwood decided to terminate one of its businesses, the sale of cocoa butter, and said 13 million pounds of its cocoa bean inventory was attributable to that activity. Accordingly, the company offered to repurchase its stock in exchange for the cocoa beans it no longer needed, paying 80 pounds of beans for each share.
Dịch: Bộ luật Thuế năm 1954 đã giải thoát công ty khỏi nan giải này. Nó bao gồm một điều khoản ít người biết cho phép một công ty được miễn khoản thuế đáng lẽ phải nộp đối với lợi nhuận tính theo phương pháp LIFO, nếu lượng hàng tồn kho đó được phân phối cho các cổ đông như một phần của kế hoạch thu hẹp quy mô hoạt động doanh nghiệp. Rockwood quyết định đóng một trong các mảng kinh doanh của mình, mảng bán bơ ca-cao, và bảo rằng 13 triệu pound hạt ca cao tồn kho của họ là thuộc về mảng này. Theo đó, công ty đã đưa ra đề nghị mua lại cổ phiếu của chính mình để đổi lấy số hạt ca cao mà họ không còn nhu cầu sử dụng nữa, với tỷ lệ thanh toán 80 pound hạt ca cao cho mỗi một cổ phiếu.
For several weeks I busily bought shares, sold beans, and made periodic stops at Schroeder Trust to exchange stock certificates for warehouse receipts. The profits were good and my only expense was subway tokens.
Dịch: Trong suốt vài tuần liền, tôi bận rộn mua cổ phiếu, bán hạt ca cao, và định kỳ ghé qua Schroeder Trust để đổi các tờ chứng chỉ cổ phiếu lấy các biên lai kho hàng. Lợi nhuận thu về rất tốt, và chi phí duy nhất của tôi chỉ là vé tàu điện ngầm.
The architect of Rockwood’s restructuring was an unknown, but brilliant Chicagoan, Jay Pritzker, then 32. If you’re familiar with Jay’s subsequent record, you won’t be surprised to hear the action worked out rather well for Rockwood’s continuing shareholders also. From shortly before the tender until shortly after it, Rockwood stock appreciated from 15 to 100, even though the company was experiencing large operating losses. Sometimes there is more to stock valuation than price-earnings ratios.
Dịch: Kiến trúc sư trưởng của thương vụ tái cấu trúc của Rockwood là một người Chicago vô danh nhưng xuất chúng, Jay Pritzker, khi đó mới 32 tuổi. Nếu quý vị biết những thành tựu sau này của Jay, quý vị sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng thương vụ này đã mang lại kết quả khá tốt đẹp cho các cổ đông gắn bó của Rockwood. Từ ngay trước khi diễn ra đợt chào mời cho đến ngay sau đó, cổ phiếu Rockwood nhảy vọt từ 15 đô lên 100 đô, ngay cả khi công ty đang phải chịu những khoản lỗ vận hành lớn. Đôi khi, việc định giá cổ phiếu không chỉ là nhìn vào các chỉ số giá trên lợi nhuận.
• Bình luận: theo chương 21, tiểu sử Hòn tuyết về Buffett, Jay Pritzker (sau này đồng sáng lập chuỗi khách sạn Hyatt) sau khi mua kiểm soát Rockwood, đã đề xuất đổi lượng hạt ca cao trị giá 36 đô cho mỗi cổ phiếu Rockwood lúc đó đang bán giá 34 đô. Việc này khuyến khích các cổ đông khác đổi cổ phiếu lấy ca cao bán, và qua đó tăng tỷ lệ sở hữu của Jay, đồng thời khiến các nhà đầu tư như quỹ Graham-Newman của Ben Graham, thầy của Buffett, có cơ hội kinh doanh chênh lệch giá kiếm lời 2 đô trên mỗi cổ phiếu. Để phòng vệ (hedge) rủi ro ca cao rớt giá, khiến lượng ca cao bán đi không đủ bù số tiền trả mua cổ phiếu Rockwood, Graham cũng đồng thời bán các hợp đồng tương lai (futures contract) để chốt cứng mức lợi nhuận (không lo ca cao rớt giá nhưng nếu ca cao tăng giá thì cũng không được hưởng lợi nhiều hơn). Với khả năng sinh lời giới hạn do khó tăng giá bán lẻ sản phẩm sô cô la, trong khi nguyên liệu đầu vào tăng, thương vụ Rockwood này thuộc về nhóm cigar butt – tài sản sổ sách hiện tại cao hơn thu nhập tương lai (chỉ ba năm sau Rockwood bị bán lại cho một công ty sô cô la khác và nhà máy ở Brooklyn đóng cửa vào năm 1967).
In recent years, most arbitrage operations have involved takeovers, friendly and unfriendly. With acquisition fever rampant, with anti-trust challenges almost non-existent, and with bids often ratcheting upward, arbitrageurs have prospered mightily. They have not needed special talents to do well; the trick, a la Peter Sellers in the movie, has simply been “Being There.” In Wall Street the old proverb has been reworded: “Give a man a fish and you feed him for a day. Teach him how to arbitrage and you feed him forever.” (If, however, he studied at the Ivan Boesky School of Arbitrage, it may be a state institution that supplies his meals.)
Dịch: Trong những năm gần đây, hầu hết các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá đều liên quan đến các thương vụ thâu tóm doanh nghiệp, cả thân thiện lẫn thiếu thân thiện. Với cơn sốt mua lại diễn ra rầm rộ, với các thách thức về chống độc quyền gần như không tồn tại, và giá chào mua được đẩy cao liên tục, những người kinh doanh chênh lệch giá đã phất lên như diều gặp gió. Họ không cần tài năng gì đặc biệt để kiếm lớn; cái mẹo là giống như Peter Sellers trong phim, đơn giản chỉ là “ở đó (đúng chỗ đúng lúc)“. Tại Phố Wall, câu ngạn ngữ cổ đã được soạn lại thành: “Cho một người một con cá là nuôi họ một ngày. Dạy họ cách kinh doanh chênh lệch giá là nuôi họ mãi mãi.” (Tuy nhiên, nếu họ học tại Trường knih doanh chênh lệch giá của Ivan Boesky, thì có lẽ một tổ chức nhà nước mới là nơi cung cấp các bữa ăn cho họ).
• Chú thích: Ivan Boesky năm 1986 nhận tội đã giao dịch nội gián trong các thương vụ kinh doanh chênh lệch giá, tức là sử dụng các thông tin nội bộ chưa được công bố để mua cổ phiếu trước khi có thông báo chính thức đẩy giá lên.
To evaluate arbitrage situations you must answer four questions: (1) How likely is it that the promised event will indeed occur? (2) How long will your money be tied up? (3) What chance is there that something still better will transpire – a competing takeover bid, for example? and (4) What will happen if the event does not take place because of anti-trust action, financing glitches, etc.?
Dịch: Để đánh giá các tình huống kinh doanh chênh lệch giá, quý vị phải trả lời bốn câu hỏi: (1) Khả năng sự kiện được kỳ vọng thực sự xảy ra là bao nhiêu? (2) Vốn của mình sẽ bị trói chân trong bao lâu? (3) Khả năng bao nhiêu sẽ có một điều gì tốt hơn xuất hiện – ví dụ như một đề nghị cạnh tranh chào mua thâu tóm? và (4) Điều gì sẽ xảy ra nếu sự kiện đó không diễn ra do các biện pháp chống độc quyền, trục trặc tài chính…?
Arcata Corp., one of our more serendipitous arbitrage experiences, illustrates the twists and turns of the business. On September 28, 1981 the directors of Arcata agreed in principle to sell the company to Kohlberg, Kravis, Roberts & Co. (KKR), then and now a major leveraged-buy out firm. Arcata was in the printing and forest products businesses and had one other thing going for it: In 1978 the U.S. Government had taken title to 10,700 acres of Arcata timber, primarily old-growth redwood, to expand Redwood National Park. The government had paid $97.9 million, in several installments, for this acreage, a sum Arcata was contesting as grossly inadequate. The parties also disputed the interest rate that should apply to the period between the taking of the property and final payment for it. The enabling legislation stipulated 6% simple interest; Arcata argued for a much higher and compounded rate.
Dịch: Arcata Corp., một trong những vụ kinh doanh chênh lệch giá thành công bất ngờ của chúng tôi, là minh chứng rõ nét cho những bước ngoặt thăng trầm trong kinh doanh. Vào ngày 28 tháng 9 năm 1981, hội đồng quản trị của Arcata đồng ý về mặt nguyên tắc sẽ bán lại công ty cho Kohlberg, Kravis, Roberts & Co. (KKR), một công ty lớn chuyên các thương vụ mua lại bằng đòn bẩy vốn vay cả lúc ấy lẫn hiện tại. Arcata hoạt động trong lĩnh vực in ấn, lâm sản và sở hữu một lợi thế khác: Vào năm 1978, Chính phủ Mỹ đã thu hồi quyền sở hữu 10.700 mẫu (chuẩn Anh/Mỹ) đất rừng của Arcata, chủ yếu là rừng hồng sam cổ thụ, để mở rộng Công viên Quốc gia Redwood. Chính phủ đã thanh toán 97,9 triệu đô thành nhiều đợt cho diện tích đất này, một số tiền mà Arcata khiếu nại là hoàn toàn không thỏa đáng. Các bên cũng tranh chấp về mức lãi suất áp dụng cho khoảng thời gian tính từ thời điểm thu hồi tài sản cho đến khi khoản thanh toán cuối cùng được hoàn tất. Luật quy định cho phép áp dụng mức lãi suất đơn giản 6%; trong khi Arcata lập luận cho mức cao hơn nhiều và là lãi kép.
Buying a company with a highly-speculative, large-sized claim in litigation creates a negotiating problem, whether the claim is on behalf of or against the company. To solve this problem, KKR offered $37.00 per Arcata share plus two-thirds of any additional amounts paid by the government for the redwood lands.
Dịch: Việc mua một công ty với một vụ kiện bồi thường lớn nhưng rất phỏng đoán, tạo ra những khó khăn trong đàm phán, bất kể công ty đó là bên đi kiện hay bên bị kiện. Để giải quyết vấn đề này, KKR đề xuất 37,00 đô cho mỗi cổ phiếu Arcata, cộng thêm hai phần ba của bất kỳ khoản tiền bồi thường bổ sung nào mà chính phủ trả cho các khoảng đất hồng sam.
Appraising this arbitrage opportunity, we had to ask ourselves whether KKR would consummate the transaction since, among other things, its offer was contingent upon its obtaining “satisfactory financing.” A clause of this kind is always dangerous for the seller: It offers an easy exit for a suitor whose ardor fades between proposal and marriage. However, we were not particularly worried about this possibility because KKR’s past record for closing had been good.
Dịch: Khi đánh giá cơ hội kinh doanh chênh lệch giá này, chúng tôi đã phải tự hỏi liệu KKR có thực thi giao dịch hay không, bởi vì ngoài những lý do khác, lời đề nghị của họ còn phụ thuộc vào việc đạt được “kêu gọi tài chính thỏa đáng”. Một điều khoản kiểu này luôn nguy hiểm đối với bên bán: Nó mở ra đường lùi dễ dàng cho người hỏi dâu, người mà sự nhiệt tình nguội dần từ lúc cầu hôn đến khi làm đám cưới. Tuy nhiên, chúng tôi không đặc biệt lo ngại về khả năng này vì lịch sử thực hiện các thương vụ trong quá khứ của KKR là tốt.
We also had to ask ourselves what would happen if the KKR deal did fall through, and here we also felt reasonably comfortable: Arcata’s management and directors had been shopping the company for some time and were clearly determined to sell. If KKR went away, Arcata would likely find another buyer, though of course, the price might be lower.
Dịch: Chúng tôi cũng phải tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu thương vụ với KKR đổ bể, và ở đây chúng tôi cảm thấy thoải mái một cách hợp lý: ban điều hành và hội đồng quản trị của Arcata đã đi chợ một thời gian và rõ ràng là họ quyết tâm bán. Nếu KKR rút lui, Arcata nhiều khả năng sẽ tìm được người mua khác, dù tất nhiên, giá có thể sẽ thấp hơn.
Finally, we had to ask ourselves what the redwood claim might be worth. Your Chairman, who can’t tell an elm from an oak, had no trouble with that one: He coolly evaluated the claim at somewhere between zero and a whole lot.
Dịch: Cuối cùng, chúng tôi phải tự hỏi yêu cầu bồi thường đất rừng hồng sam có thể đáng giá bao nhiêu. Chủ tịch của quý vị, người chẳng phân biệt nổi cây du với cây sồi, lại chẳng gặp chút khó khăn nào với câu đó: Ông ta thản nhiên định giá yêu cầu bồi thường này đâu đó giữa không đồng và rất nhiều.
We started buying Arcata stock, then around $33.50, on September 30 and in eight weeks purchased about 400,000 shares, or 5% of the company. The initial announcement said that the $37.00 would be paid in January, 1982. Therefore, if everything had gone perfectly, we would have achieved an annual rate of return of about 40% – not counting the redwood claim, which would have been frosting.
Dịch: Chúng tôi bắt đầu mua cổ phiếu Arcata, khi đó giá vào khoảng 33,50 đô, vào ngày 30 tháng 9 và trong vòng tám tuần đã mua khoảng 400.000 cổ phiếu, tương đương 5% công ty. Thông báo ban đầu bảo rằng khoản tiền 37,00 đô sẽ được trả vào tháng 1 năm 1982. Vì vậy, nếu mọi việc diễn ra hoàn hảo, chúng tôi sẽ đạt được tỷ suất lợi nhuận hàng năm khoảng 40% – chưa tính đến khoản bồi thường đất rừng hồng sam, khoản mà sẽ là phần thưởng thêm.
• Bình luận: tỷ suất sinh lời của vụ kinh doanh chênh lệch giá Arcata là khoảng trên 10% (37/33,5). Vì Bufett theo vụ này trong ba tháng – tức 1/4 năm (từ khi mua cổ phiếu Arcata vào tháng 9 năm 1981 đến nhận tiền mua lại từ KKR vào tháng 1 năm 1982) nên Buffett nhân bốn 10% lên thành khoảng 40% tỷ suất lợi nhuận cả năm. Cần lưu ý là khi nhân lên như vậy thì đang có sự giả sử ngầm là chín tháng sau ta vẫn thực hiện được các cơ hội với tỷ lệ sinh lời tương đương: nếu một người trúng xổ số, thì tỷ suất lợi nhuận cả năm của người đó có bằng tỷ suất lợi nhuận một ngày nhận thưởng nhân với 365 ngày không? Có lẽ Buffett tính như vậy để nhấn mạnh sự lạc quan thái quá mà nhà đầu tư dễ mắc phải ở giai đoạn đầu khi mới chỉ tính toán trên giấy.
All did not go perfectly. In December it was announced that the closing would be delayed a bit. Nevertheless, a definitive agreement was signed on January 4. Encouraged, we raised our stake, buying at around $38.00 per share and increasing our holdings to 655,000 shares, or over 7% of the company. Our willingness to pay up – even though the closing had been postponed – reflected our leaning toward “a whole lot” rather than “zero” for the redwoods.
Dịch: Mọi chuyện không diễn ra hoàn toàn suôn sẻ. Vào tháng 12, có thông báo rằng việc chốt thỏa thuận sẽ bị trì hoãn một chút. Tuy nhiên, một thỏa thuận cuối cùng đã được ký kết vào ngày 4 tháng 1. Phấn khởi, chúng tôi đã nâng mức đầu tư của mình, mua thêm ở giá khoảng 38 đô một cổ phiếu và tăng lượng cổ phiếu nắm giữ lên 655.000 cổ phiếu, tương đương hơn 7% cổ phần công ty. Việc chúng tôi sẵn lòng chi trả nhiều hơn – ngay cả khi thời hạn hoàn tất thương vụ đã bị lùi lại – phản ánh khuynh hướng của chúng tôi ngả về phía “rất nhiều” thay vì “không đồng” cho khoản bồi thường rừng hồng sam.
Then, on February 25 the lenders said they were taking a “second look” at financing terms “ in view of the severely depressed housing industry and its impact on Arcata’s outlook.” The stockholders’ meeting was postponed again, to April. An Arcata spokesman said he “did not think the fate of the acquisition itself was imperiled.” When arbitrageurs hear such reassurances, their minds flash to the old saying: “He lied like a finance minister on the eve of devaluation.”
Dịch: Rồi, vào ngày 25 tháng 2, các bên cho vay bảo là họ đang “xem lại” các điều khoản cấp vốn “trước bối cảnh ngành nhà đất suy thoái nghiêm trọng và những tác động của nó đối với triển vọng của Arcata.” Cuộc họp cổ đông một lần nữa bị hoãn lại đến tháng 4. Một phát ngôn viên của Arcata nói rằng anh ta “không nghĩ rằng số mệnh của vụ thâu tóm đang bị đe dọa.” Khi những người kinh doanh chênh lệch giá nghe thấy những lời trấn an kiểu này, tâm trí họ lập tức hiện lại câu nói xưa: “Hắn nói dối như bộ trưởng tài chính ngay trước thềm hạ giá nội tệ.”
On March 12 KKR said its earlier deal wouldn’t work, first cutting its offer to $33.50, then two days later raising it to $35.00. On March 15, however, the directors turned this bid down and accepted another group’s offer of $37.50 plus one-half of any redwood recovery. The shareholders okayed the deal, and the $37.50 was paid on June 4.
Dịch: Ngày 12 tháng 3 KKR tuyên bố rằng thỏa thuận trước đó là không khả thi; đầu tiên họ hạ giá chào mua xuống còn 33,50 đô, rồi hai ngày sau tăng lên 35,00 đô. Ngày 15 tháng 3, tuy vậy, hội đồng quản trị từ chối đề nghị này và chấp thuận lời chào mua từ một bên khác với giá 37,50 đô cộng thêm một nửa tiền bồi thường đất rừng hồng sam. Các cổ đông đã thông qua thỏa thuận này, và khoản 37,50 đô được trả vào ngày 4 tháng 6.
We received $24.6 million versus our cost of $22.9 million; our average holding period was close to six months. Considering the trouble this transaction encountered, our 15% annual rate of return excluding any value for the redwood claim – was more than satisfactory.
Dịch: Chúng tôi nhận được 24,6 triệu đô so với chi phí 22,9 triệu đô; thời gian nắm giữ trung bình của chúng tôi là gần sáu tháng. Xét đến những rắc rối mà giao dịch này gặp phải, tỷ suất lợi nhuận hàng năm 15% chưa bao gồm bất kỳ giá trị nào từ khoản bồi thường liên quan đến đất rừng hồng sam – là trên cả hài lòng.
But the best was yet to come. The trial judge appointed two commissions, one to look at the timber’s value, the other to consider the interest rate questions. In January 1987, the first commission said the redwoods were worth $275.7 million and the second commission recommended a compounded, blended rate of return working out to about 14%.
Dịch: Nhưng cái tuyệt nhất vẫn chưa đến. Thẩm phán phiên tòa đã thành lập hai ủy ban, một bên xem xét giá trị của gỗ, bên còn lại để cân nhắc câu hỏi về lãi suất. Vào tháng 1 năm 1987, ủy ban thứ nhất tuyên bố số gỗ hồng sam trị giá 275,7 triệu đô, và ủy ban thứ hai khuyến nghị mức tỷ suất lợi nhuận hỗn hợp, tính lãi kép, tương đương khoảng 14%.
In August 1987 the judge upheld these conclusions, which meant a net amount of about $600 million would be due Arcata. The government then appealed. In 1988, though, before this appeal was heard, the claim was settled for $519 million. Consequently, we received an additional $29.48 per share, or about $19.3 million. We will get another $800,000 or so in 1989.
Dịch: Vào tháng 8 năm 1987, thẩm phán giữ nguyên các kết luận này, đồng nghĩa với việc khoảng 600 triệu đô sẽ phải trả cho Arcata. Sau đó, chính phủ đã tiến hành kháng cáo. Tuy nhiên, vào năm 1988, trước khi kháng cáo này ra tòa xét xử, khiếu nại đã được dàn xếp với mức bồi thường 519 triệu đô. Hệ quả là, chúng ta đã nhận được thêm 29,48 đô trên mỗi cổ phiếu, tương đương khoảng 19,3 triệu đô. Chúng ta sẽ nhận thêm khoảng 800.000 đô nữa vào năm 1989.
Berkshire’s arbitrage activities differ from those of many arbitrageurs. First, we participate in only a few, and usually very large, transactions each year. Most practitioners buy into a great many deals perhaps 50 or more per year. With that many irons in the fire, they must spend most of their time monitoring both the progress of deals and the market movements of the related stocks. This is not how Charlie nor I wish to spend our lives. (What’s the sense in getting rich just to stare at a ticker tape all day?)
Dịch: Hoạt động kinh doanh chênh lệch giá của Berkshire khác với nhiều bên knih doanh chên lệch giá khác. Thứ nhất, chúng tôi chỉ tham gia vào một vài giao dịch, và thường là những cái rất lớn, mỗi năm. Hầu hết những người hành nghề này thường đổ tiền vào rất nhiều thương vụ, có lẽ 50 hoặc hơn thế mỗi năm. Với quá nhiều việc phải lo như vậy, họ buộc phải dành phần lớn thời gian để theo dõi cả tiến độ các thương vụ cũng như biến động thị trường của các cổ phiếu liên quan. Đây không phải cách mà Charlie hay tôi muốn dành cuộc đời mình làm. (Làm giàu để làm gì nếu chỉ để dán mắt vào màn hình giá cả ngày?)
Because we diversify so little, one particularly profitable or unprofitable transaction will affect our yearly result from arbitrage far more than it will the typical arbitrage operation. So far, Berkshire has not had a really bad experience. But we will – and when it happens we’ll report the gory details to you.
Dịch: Bởi vì chúng tôi đa dạng hóa rất ít, nên một giao dịch cực lãi hoặc lỗ sẽ tác động đến kết quả kinh doanh chênh lệch giá hàng năm của chúng tôi lớn hơn nhiều, so với kinh doanh chênh lệch giá thông thường. Cho đến nay, Berkshire vẫn chưa gặp phải trải nghiệm nào thực sự tệ. Nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ gặp – và khi điều đó xảy ra, chúng tôi sẽ báo cáo chi tiết đẫm máu tới quý vị.
The other way we differ from some arbitrage operations is that we participate only in transactions that have been publicly announced. We do not trade on rumors or try to guess takeover candidates. We just read the newspapers, think about a few of the big propositions, and go by our own sense of probabilities.
Dịch: Một điều nữa mà chúng tôi khác với một số hoạt động kinh doanh chênh lệch giá là chúng tôi chỉ tham gia vào các giao dịch đã được thông báo công khai. Chúng tôi không giao dịch dựa trên tin đồn hay cố đoán ứng viên sắp bị thâu tóm. Chúng tôi chỉ đọc báo, suy ngẫm về một vài đề xuất lớn và hành động dựa trên cảm nhận riêng của mình về các xác suất.
At yearend, our only major arbitrage position was 3,342,000 shares of RJR Nabisco with a cost of $281.8 million and a market value of $304.5 million. In January we increased our holdings to roughly four million shares and in February we eliminated our position. About three million shares were accepted when we tendered our holdings to KKR, which acquired RJR, and the returned shares were promptly sold in the market. Our pre-tax profit was a better-than-expected $64 million.
Dịch: Vào cuối năm, vị thế kinh doanh chênh lệch giá lớn duy nhất của chúng tôi là 3.342.000 cổ phiếu của RJR Nabisco, với chi phí gốc là 281,8 triệu đô và giá trị thị trường là 304,5 triệu đô. Vào tháng 1, chúng tôi đã tăng khối lượng nắm giữ lên khoảng bốn triệu cổ phiếu và đến tháng 2, chúng tôi đã tất toán toàn bộ vị thế này. Khoảng ba triệu cổ phiếu đã được chấp thuận khi chúng tôi chào bán số cổ phần của mình cho KKR, bên đã mua lại RJR, và số cổ phiếu bị trả lại được nhanh chóng bán đi trên thị trường. Lợi nhuận trước thuế, tốt hơn so với kỳ vọng của chúng tôi, đạt 64 triệu đô.
During most of the time when we normally would have been purchasers of RJR, our activities in the stock were restricted because of Salomon’s participation in a bidding group. Customarily, Charlie and I, though we are directors of Salomon, are walled off from information about its merger and acquisition work. We have asked that it be that way: The information would do us no good and could, in fact, occasionally inhibit Berkshire’s arbitrage operations.
Dịch: Trong phần lớn thời gian mà chúng tôi lẽ ra mua cổ phiếu của RJR, các hoạt động của chúng tôi đối với cổ phiếu RJR bị hạn chế do Salomon tham gia vào một nhóm đấu thầu. Theo thông lệ thì Charlie và tôi, dù trong hội đồng quản trị của Salomon, sẽ cách ly với các thông tin liên quan đến mảng mua bán và sáp nhập tại đây. Chúng tôi đã yêu cầu sự cách ly đó: Những thông tin này chẳng giúp ích gì cho chúng tôi, và thực tế đôi khi còn có thể cản trở các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá của Berkshire.
However, the unusually large commitment that Salomon proposed to make in the RJR deal required that all directors be fully informed and involved. Therefore, Berkshire’s purchases of RJR were made at only two times: first, in the few days immediately following management’s announcement of buyout plans, before Salomon became involved; and considerably later, after the RJR board made its decision in favor of KKR. Because we could not buy at other times, our directorships cost Berkshire significant money.
Dịch: Tuy nhiên, do khoản cam kết lớn bất thường mà Salomon đề xuất sẽ thực hiện trong thương vụ RJR, đòi hỏi tất cả thành viên hội đồng quản trị phải được thông báo đầy đủ và theo sát. Do đó, Berkshire chỉ thực hiện việc mua cổ phiếu RJR vào đúng hai thời điểm: lần đầu, trong vài ngày ngay sau khi ban quản lý công bố kế hoạch mua lại, trước khi Salomon tham gia vào thương vụ; và lâu sau đó đáng kể, sau khi hội đồng quản trị của RJR đã đưa ra quyết định ủng hộ KKR. Bởi vì chúng tôi không thể mua vào các thời điểm khác, vai trò thành viên hội đồng quản trị Salomon của chúng tôi đã khiến Berkshire thiệt một khoản tiền đáng kể.
• Chú thích: nếu Buffett sử dụng thông tin từ Salomon, ví dụ như giá bên đấu thầu mà Salomon tham gia cùng sẽ đề xuất, để giao dịch thì đây sẽ là giao dịch nội gián. Vậy nên Buffett khi đầu tư vào các công ty tài chính, ngân hàng, và trở thành cổ đông lớn, thường yêu cầu cách ly ông khỏi các thông tin như vậy để tránh bị trói tay khi đầu tư.
Considering Berkshire’s good results in 1988, you might expect us to pile into arbitrage during 1989. Instead, we expect to be on the sidelines.
One pleasant reason is that our cash holdings are down – because our position in equities that we expect to hold for a very long time is substantially up. As regular readers of this report know, our new commitments are not based on a judgment about short-term prospects for the stock market. Rather, they reflect an opinion about long-term business prospects for specific companies. We do not have, never have had, and never will have an opinion about where the stock market, interest rates, or business activity will be a year from now.
Dịch: Xét trên kết quả tốt của Berkshire trong năm 1988, quý vị có thể kỳ vọng chúng tôi sẽ dồn lực vào kinh doanh chênh lệch giá trong năm 1989. Thay vào đó, chúng tôi dự định sẽ đứng ngoài cuộc.
Một lý do dễ chịu cho việc này là lượng tiền mặt nắm giữ của chúng ta đã giảm xuống – bởi vị thế đầu tư vào các cổ phiếu mà chúng tôi dự định nắm giữ lâu dài đã tăng lên đáng kể. Như những độc giả thường xuyên của báo cáo này đều biết, các cam kết đầu tư mới của chúng tôi không dựa trên những phán đoán về triển vọng ngắn hạn của thị trường chứng khoán. Thay vào đó, chúng phản ánh quan điểm về triển vọng kinh doanh dài hạn của các công ty cụ thể. Chúng tôi không có, chưa từng có, và sẽ không bao giờ có ý kiến về việc thị trường chứng khoán, lãi suất hay hoạt động kinh doanh sẽ ra sao trong một năm tới.
Even if we had a lot of cash we probably would do little in arbitrage in 1989. Some extraordinary excesses have developed in the takeover field. As Dorothy says: “Toto, I have a feeling we’re not in Kansas any more.”
We have no idea how long the excesses will last, nor do we know what will change the attitudes of government, lender and buyer that fuel them. But we do know that the less the prudence with which others conduct their affairs, the greater the prudence with which we should conduct our own affairs. We have no desire to arbitrage transactions that reflect the unbridled – and, in our view, often unwarranted – optimism of both buyers and lenders. In our activities, we will heed the wisdom of Herb Stein: “If something can’t go on forever, it will end.”
Dịch: Dù chúng tôi có sẵn rất nhiều tiền mặt, thì chúng tôi có lẽ cũng sẽ ít kinh doanh chênh lệch giá trong năm 1989. Một số sự thái quá đến mức phi thường đã xuất hiện trong mảng thâu tóm doanh nghiệp. Như nhân Dorothy nói: “Toto, mình có cảm giác chúng ta không còn ở Kansas nữa rồi.”
Chúng tôi không biết những sự thái quá này sẽ kéo dài bao lâu, cũng như không biết điều gì sẽ làm thay đổi thái độ của chính phủ, các bên cho vay và bên mua vốn đang cấp nhiên liệu cho chúng. Nhưng chúng tôi biết là người khác càng bất cẩn với việc của họ, thì chúng ta càng phải cẩn thận với việc của mình. Chúng tôi không ham muốn kinh doanh chênh lệch giá dựa trên những giao dịch phản ánh sự lạc quan thiếu kiềm chế – và theo quan điểm của chúng tôi, thường cũng thiếu căn cứ – của cả bên mua lẫn bên cho vay. Trong các hoạt động của mình, chúng tôi sẽ nghe theo lời thông thái của Herb Stein: “Nếu một thứ gì đó không thể kéo dài mãi mãi, nó sẽ phải dừng.”
• Bình luận: đúng như Buffett dự đoán, năm 1989 là đỉnh cao của hoạt động mua lại bằng đòn bẩy vốn vay, và thương vụ RJR Nabisco của KKR chính là đỉnh cao. Việc thương vụ này và một số thương vụ tương tự cùng thời điểm không đạt được lợi nhuận như kỳ vọng, buộc nhà đầu tư rót thêm vốn (một số công ty không được rót thêm vốn đã phá sản), cộng với nguồn tiền rẻ từ các trái phiếu rác (junk bond) ít dần, đã làm giảm nhiệt hoạt động mua lại bằng đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên trong cao trào cuộc vui thì việc có được sự khách quan, kỷ luật cảm xúc để gạt qua nỗi sợ bỏ lỡ, đi ngược lại đám đông và rời cuộc chơi khi mình còn đang thắng như Buffett là nói thì dễ hơn làm. Khó hơn nữa là duy trì được chúng liên tục vì chỉ vài năm sau, Buffett lại bị chỉ trích là lỗi thời khi bỏ qua cuộc bùng nổ công nghệ.
The preceding discussion about arbitrage makes a small discussion of “efficient market theory” (EMT) also seem relevant. This doctrine became highly fashionable – indeed, almost holy scripture in academic circles during the 1970s. Essentially, it said that analyzing stocks was useless because all public information about them was appropriately reflected in their prices. In other words, the market always knew everything. As a corollary, the professors who taught EMT said that someone throwing darts at the stock tables could select a stock portfolio having prospects just as good as one selected by the brightest, most hard-working security analyst. Amazingly, EMT was embraced not only by academics, but by many investment professionals and corporate managers as well. Observing correctly that the market was frequently efficient, they went on to conclude incorrectly that it was always efficient. The difference between these propositions is night and day.
Dịch: Phần thảo luận ở trên về kinh doanh chênh lệch giá khiến cho một cuộc thảo luận nhỏ về “thuyết thị trường hiệu quả” (EMT) trở nên liên quan. Học thuyết này đã trở nên cực kỳ thịnh hành – thậm chí gần như là kinh thánh trong giới hàn lâm suốt những năm 1970. Về cốt lõi, nó cho rằng việc phân tích cổ phiếu là vô ích vì mọi thông tin công khai về chúng đều đã được phản ánh một cách thích hợp vào giá cả. Nói cách khác, thị trường luôn luôn biết mọi thứ. Như một hệ quả tất yếu, các giáo sư giảng dạy EMT cho rằng một người ném tiêu bừa vào bảng danh sách cổ phiếu cũng có thể lựa chọn được một danh mục đầu tư có triển vọng tốt chẳng kém gì danh mục được chọn bởi một nhà phân tích chứng khoán thông minh và chăm chỉ nhất. Đáng ngạc nhiên là EMT không chỉ được giới hàn lâm đón nhận, mà còn cả nhiều chuyên viên đầu tư lẫn các quản lý doanh nghiệp. Quan sát chính xác rằng thị trường thường xuyên hiệu quả, họ đi đến kết luận sai lầm rằng nó luôn luôn hiệu quả. Sự khác biệt giữa hai mệnh đề này là một trời một vực.
In my opinion, the continuous 63-year arbitrage experience of Graham-Newman Corp. Buffett Partnership, and Berkshire illustrates just how foolish EMT is. (There’s plenty of other evidence, also.) While at Graham-Newman, I made a study of its earnings from arbitrage during the entire 1926-1956 lifespan of the company. Unleveraged returns averaged 20% per year. Starting in 1956, I applied Ben Graham’s arbitrage principles, first at Buffett Partnership and then Berkshire. Though I’ve not made an exact calculation, I have done enough work to know that the 1956-1988 returns averaged well over 20%. (Of course, I operated in an environment far more favorable than Ben’s; he had 1929-1932 to contend with.)
Dịch: Theo ý kiến của tôi, kinh nghiệm 63 năm liên tục kinh doanh chênh lệch giá của Graham-Newman Corp., Buffett Partnership và Berkshire là thể hiện mức độ ngớ ngẩn của EMT. (Tất nhiên, còn có nhiều bằng chứng khác nữa.) Trong thời gian làm tại Graham-Newman, tôi đã thực hiện một nghiên cứu về lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chênh lệch giá trong suốt vòng đời của công ty từ năm 1926 đến 1956. Kết quả là tỷ suất lợi nhuận không sử dụng đòn bẩy đạt trung bình 20% mỗi năm. Từ năm 1956, tôi áp dụng các nguyên tắc kinh doanh chênh lệch giá của Ben Graham, đầu tiên là tại Buffett Partnership và sau đó là tại Berkshire. Mặc dù tôi chưa làm một phép tính chính xác, nhưng tôi đã làm đủ để biết rằng lợi nhuận giai đoạn 1956-1988 đạt mức trung bình trên 20%. (Dĩ nhiên, tôi đã hoạt động trong một môi trường thuận lợi hơn nhiều so với Ben; ông ấy phải đương đầu với giai đoạn đại khủng hoảng 1929-1932).
All of the conditions are present that are required for a fair test of portfolio performance: (1) the three organizations traded hundreds of different securities while building this 63-year record; (2) the results are not skewed by a few fortunate experiences; (3) we did not have to dig for obscure facts or develop keen insights about products or managements – we simply acted on highly-publicized events; and (4) our arbitrage positions were a clearly identified universe – they have not been selected by hindsight.
Dịch: Tất cả các điều kiện cần có cho một cuộc kiểm chứng công bằng về thành quả của danh mục đầu tư đều đã hiện diện: (1) Ba tổ chức này đã giao dịch hàng trăm loại chứng khoán khác nhau trong suốt quá trình thiết lập nên hồ sơ kéo dài 63 năm này; (2) các kết quả đạt được không bị làm sai lệch bởi một vài thương vụ may mắn; (3) chúng tôi không cần phải đào sâu tìm kiếm các thông tin mơ hồ hay phát triển những sự hiểu biết sâu sắc về sản phẩm hay ban quản lý – chúng tôi chỉ đơn giản là hành động dựa trên các sự kiện đã được truyền thông rộng rãi; và (4) các vị thế kinh doanh chênh lệch giá của chúng tôi thuộc một phạm vi được xác định rõ ràng – chúng không phải là kết quả của việc lựa chọn sau khi sự đã rồi.
Over the 63 years, the general market delivered just under a 10% annual return, including dividends. That means $1,000 would have grown to $405,000 if all income had been reinvested. A 20% rate of return, however, would have produced $97 million. That strikes us as a statistically-significant differential that might, conceivably, arouse one’s curiosity.
Dịch: Trong 63 năm qua, thị trường chung mang lại tỷ suất sinh lời hàng năm ở mức dưới 10%, bao gồm cả cổ tức. Điều đó có nghĩa là 1.000 đô sẽ tăng trưởng thành 405.000 đô nếu tất cả thu nhập được tái đầu tư. Tuy nhiên, nếu tỷ suất sinh lời là 20%, con số đó sẽ lên tới 97 triệu đô. Chúng tôi thấy đây là một sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê mà, ta có thể hình dung được là sẽ khơi dậy sự tò mò của bất kỳ ai.
Yet proponents of the theory have never seemed interested in discordant evidence of this type. True, they don’t talk quite as much about their theory today as they used to. But no one, to my knowledge, has ever said he was wrong, no matter how many thousands of students he has sent forth misinstructed. EMT, moreover, continues to be an integral part of the investment curriculum at major business schools. Apparently, a reluctance to recant, and thereby to demystify the priesthood, is not limited to theologians.
Dịch: Thế nhưng những người ủng hộ thuyết này dường như chưa bao giờ quan tâm đến những bằng chứng trái ngược loại này. Thật vây, ngày nay họ không còn nói về thuyết của mình nhiều như trước nữa. Nhưng không ai, theo tôi biết,từng nhận mình đã sai, bất kể bao nhiêu nghìn sinh viên bị chỉ sai mà họ đã gửi ra đời. EMT, hơn thế nữa, vẫn tiếp tục là một phần không thể thiếu trong chương trình giảng dạy đầu tư tại các trường kinh doanh lớn. Rõ ràng, tâm lý ngại rút lại lời giảng – để rồi làm mất sự huyền bí của tầng lớp giáo sĩ – không chỉ giới hạn trong giới thần học.
Naturally the disservice done students and gullible investment professionals who have swallowed EMT has been an extraordinary service to us and other followers of Graham. In any sort of a contest – financial, mental, or physical – it’s an enormous advantage to have opponents who have been taught that it’s useless to even try. From a selfish point of view, Grahamites should probably endow chairs to ensure the perpetual teaching of EMT.
Dịch: Lẽ tự nhiên, tác hại lên những sinh viên và những chuyên viên đầu tư cả tin, những người đã nuốt chửng EMT, là một sự giúp đỡ tuyệt vời cho chúng tôi và những người khác theo trường phái Graham. Trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào – tài chính, trí óc hay thể chất – nó là một lợi thế khổng lồ khi có những đối thủ được dạy rằng mọi nỗ lực đều là vô ích. Xét dưới góc độ ích kỷ, những người theo trường phái Graham có lẽ nên tài trợ các ghế giáo sư để đảm bảo sự giảng dạy mãi mãi của EMT.
All this said, a warning is appropriate. Arbitrage has looked easy recently. But this is not a form of investing that guarantees profits of 20% a year or, for that matter, profits of any kind. As noted, the market is reasonably efficient much of the time: For every arbitrage opportunity we seized in that 63-year period, many more were foregone because they seemed properly-priced.
Dịch: Dù nói thế nhưng một cảnh báo là cần thiết. Việc kinh doanh chênh lệch giácó vẻ khá dễ dàng trong thời gian gần đây. Nhưng đây không phải là hình thức đầu tư đảm bảo lợi nhuận 20% mỗi năm, hay là bất kỳ mức lợi nhuận nào. Như đã lưu ý, thị trường vận hành khá hiệu quả trong phần lớn thời gian: Cho mỗi cơ hội kinh doanh chên lệch giá mà chúng tôi chớp được trong giai đoạn 63 năm đó, thì còn có hơn nhiều cơ hội khác đã bị bỏ qua vì chúng trông có vẻ được định giá đúng mức.
An investor cannot obtain superior profits from stocks by simply committing to a specific investment category or style. He can earn them only by carefully evaluating facts and continuously exercising discipline. Investing in arbitrage situations, per se, is no better a strategy than selecting a portfolio by throwing darts.
Dịch: Một nhà đầu tư không thể kiếm được lợi nhuận vượt trội từ cổ phiếu đơn giản bằng cách gắn bó với một danh mục hoặc phong cách đầu tư cụ thể. Họ chỉ có thể đạt được điều đó bằng cách đánh giá cẩn thận các thông tin có thật và liên tục rèn luyện tính kỷ luật. Bản thân việc đầu tư vào các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá cũng không phải là một chiến lược tốt hơn là chọn danh mục đầu tư bằng việc ném phi tiêu ngẫu nhiên.
In two respects our goals probably differ somewhat from those of most listed companies. First, we do not want to maximize the price at which Berkshire shares trade. We wish instead for them to trade in a narrow range centered at intrinsic business value (which we hope increases at a reasonable – or, better yet, unreasonable – rate). Charlie and I are bothered as much by significant overvaluation as significant undervaluation. Both extremes will inevitably produce results for many shareholders that will differ sharply from Berkshire’s business results. If our stock price instead consistently mirrors business value, each of our shareholders will receive an investment result that roughly parallels the business results of Berkshire during his holding period.
Dịch: Có hai phương diện mà các mục tiêu của chúng tôi có lẽ hơi khác so với hầu hết các công ty niêm yết trên sàn khác. Thứ nhất, chúng tôi không muốn tối đa hóa giá cổ phiếu của Berkshire. Thay vào đó, chúng tôi muốn cổ phiếu được giao dịch trong một biên độ hẹp gần với giá trị kinh doanh nội tại (cái mà chúng tôi hy vọng sẽ tăng trưởng ở mức hợp lý – hoặc tốt hơn nữa là ở mức phi lý). Charlie và tôi cảm thấy phiền lòng bởi tình trạng định giá quá cao cũng như khi bị định giá quá thấp. Cả hai thái cực này tất sẽ dẫn đến kết quả cho nhiều cổ đông khác xa kết quả kinh doanh thực tế của Berkshire. Nếu giá cổ phiếu của chúng tôi luôn phản chiếu sát sao giá trị doanh nghiệp, mỗi cổ đông sẽ nhận được một kết quả tương đương với kết quả kinh doanh của Berkshire trong suốt thời gian họ nắm giữ cổ phiếu.
Second, we wish for very little trading activity. If we ran a private business with a few passive partners, we would be disappointed if those partners, and their replacements, frequently wanted to leave the partnership. Running a public company, we feel the same way.
Dịch: Thứ hai, chúng tôi mong muốn rất ít hoạt động buôn bán cổ phiếu của mình. Nếu chúng tôi điều hành một doanh nghiệp tư nhân với một vài đối tác thụ động, chúng tôi sẽ thất vọng nếu những đối tác đó, và những người thay thế họ, thường xuyên muốn rời bỏ mối quan hệ hợp tác này. Khi điều hành công ty đại chúng, chúng tôi cũng cảm thấy tương tự vậy.
Our goal is to attract long-term owners who, at the time of purchase, have no timetable or price target for sale but plan instead to stay with us indefinitely. We don’t understand the CEO who wants lots of stock activity, for that can be achieved only if many of his owners are constantly exiting. At what other organization – school, club, church, etc. – do leaders cheer when members leave? (However, if there were a broker whose livelihood depended upon the membership turnover in such organizations, you could be sure that there would be at least one proponent of activity, as in: “There hasn’t been much going on in Christianity for a while; maybe we should switch to Buddhism next week.“)
Dịch: Mục tiêu của chúng tôi là thu hút những chủ sở hữu dài hạn, những người mà tại thời điểm mua cổ phiếu, không hề đặt ra thời điểm hay giá mục tiêu để bán, mà thay vào đó dự định gắn bó với chúng tôi vô thời hạn. Chúng tôi không thể hiểu những CEO mà muốn cổ phiếu của công ty mình được giao dịch nhiều, bởi điều đó chỉ xảy ra khi các chủ sở hữu liên tục thoái vốn. Liệu có tổ chức nào khác – trường học, câu lạc bộ, hay nhà thờ – mà ban lãnh đạo lại hoan hô khi các thành viên bỏ đi? (Tuy vậy, nếu có một người môi giới nào sống dựa trên phí chuyển nhượng thành viên của các tổ chức này, quý vị có thể chắc rằng sẽ có ít nhất một người ủng hộ việc thay máu thành viên, kiểu như: ‘Đạo Thiên Chúa dạo này có vẻ trầm lắng; hay là tuần sau chúng ta thử chuyển sang đạo Phật xem sao.’)
Of course, some Berkshire owners will need or want to sell from time to time, and we wish for good replacements who will pay them a fair price. Therefore we try, through our policies, performance, and communications, to attract new shareholders who understand our operations, share our time horizons, and measure us as we measure ourselves. If we can continue to attract this sort of shareholder – and, just as important, can continue to be uninteresting to those with short-term or unrealistic expectations – Berkshire shares should consistently sell at prices reasonably related to business value.
Dịch: Dĩ nhiên, sẽ có lúc một số cổ đông của Berkshire cần hoặc muốn bán cổ phiếu, và chúng tôi mong những người mua thay thế tốt sẽ trả họ một mức giá xứng đáng. Vì vậy, chúng tôi cố, thông qua các chính sách, thành quả và truyền thông, thu hút những cổ đông mới hiểu về hoạt động kinh doanh của công ty, cùng chia sẻ tầm nhìn dài hạn và đánh giá chúng tôi như là chúng tôi tự đánh giá bản thân. Nếu chúng tôi có thể tiếp tục thu hút được kiểu cổ đông này – và quan trọng không kém, là tiếp tục không thu hút những người với kỳ vọng ngắn hạn hay phi thực tế – thì cổ phiếu Berkshire sẽ được giao dịch thường xuyên ở mức giá sát hợp lý với giá trị doanh nghiệp.
We hope to buy more businesses that are similar to the ones we have, and we can use some help. If you have a business that fits the following criteria, call me or, preferably, write.
Here’s what we’re looking for:
(1) large purchases (at least $10 million of after-tax earnings),
(2) demonstrated consistent earning power (future projections are of little interest to us, nor are “turn-around” situations),
(3) businesses earning good returns on equity while employing little or no debt,
(4) management in place (we can’t supply it),
(5) simple businesses (if there’s lots of technology, we won’t understand it),
(6) an offering price (we don’t want to waste our time or that of the seller by talking, even preliminarily, about a transaction when price is unknown).
Dịch: Chúng tôi hy vọng sẽ mua được thêm các doanh nghiệp tương tự như những doanh nghiệp chúng ta đang có, và chúng tôi sẵn sàng nhận hỗ trợ. Nếu quý vị có một doanh nghiệp phù hợp với các tiêu chí sau, hãy gọi tôi hoặc tốt hơn là viết thư.
Đây là những điều chúng tôi đang tìm:
(1) các giao dịch lớn (ít nhất là 10 triệu đô lợi nhuận sau thuế),
(2) năng lực sinh lời ổn định đã được chứng minh (dự báo tương lai không phải là điều chúng tôi quan tâm, và các vụ “quay đầu” doanh nghiệp cũng thế),
(3) các doanh nghiệp có lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tốt trong khi sử dụng ít hoặc không sử dụng nợ
(4) ban quản lý có sẵn (chúng tôi không thể cung cấp cái này),
(5) các doanh nghiệp đơn giản (nếu có quá nhiều công nghệ, chúng tôi sẽ không hiểu được),
(6) giá đề xuất (chúng tôi không muốn lãng phí thời gian của mình hay của người bán với việc trao đổi, dù là sơ bộ, về một giao dịch mà giá chưa có).
We will not engage in unfriendly takeovers. We can promise complete confidentiality and a very fast answer – customarily within five minutes – as to whether we’re interested. We prefer to buy for cash, but will consider issuance of stock when we receive as much in intrinsic business value as we give.
Dịch: Chúng tôi sẽ không thực hiện các thương vụ thâu tóm thù địch. Chúng tôi có thể cam đoan bảo mật tuyệt đối và có câu trả lời rất nhanh – thường trong vòng năm phút – là liệu chúng tôi có quan tâm hay không. Chúng tôi ưu tiên mua bằng tiền mặt, nhưng sẽ xem xét việc phát hành cổ phiếu khi chúng tôi nhận về phần giá trị kinh doanh nội tại bằng với phần mà chúng tôi chi ra.
Our favorite form of purchase is one fitting the Blumkin-Friedman-Heldman mold. In cases like these, the company’s owner-managers wish to generate significant amounts of cash, sometimes for themselves, but often for their families or inactive shareholders. However, these managers also wish to remain significant owners who continue to run their companies just as they have in the past. We think we offer a particularly good fit for owners with these objectives and invite potential sellers to check us out by contacting people with whom we have done business in the past.
Dịch: Kiểu mua lại yêu thích của chúng tôi là những thương vụ theo khuôn mẫu Blumkin-Friedman-Heldman. Trong những trường hợp này, các chủ sở hữu kiêm quản lý của công ty muốn tạo ra một lượng tiền mặt đáng kể, đôi khi cho chính họ, nhưng thường là cho gia đình hoặc các cổ đông không trực tiếp điều hành. Tuy nhiên, các quản lý này cũng mong muốn tiếp tục là những chủ sở hữu quan trọng và điều hành công ty theo như cách họ đã làm trong quá khứ. Chúng tôi tin rằng mình là sự lựa chọn đặc biệt phù hợp cho những chủ sở hữu có mục tiêu như vậy, và mời các bên bán tiềm năng tìm hiểu về chúng tôi bằng cách liên hệ với những người mà chúng tôi đã từng làm việc với trước đây.
Corporate bondholders have taken their lumps in the past few years from “event risk.” This term refers to the overnight degradation of credit that accompanies a heavily-leveraged purchase or recapitalization of a business whose financial policies, up to then, had been conservative. In a world of takeovers inhabited by few owner-managers, most corporations present such a risk. Berkshire does not. Charlie and I promise bondholders the same respect we afford shareholders.
Dịch: Những người giữ trái phiếu doanh nghiệp đã phải chịu đòn trong vài năm qua từ “rủi ro sự kiện”. Thuật ngữ này chỉ về tình trạng chất lượng tín dụng bị xuống cấp chỉ sau một đêm, đi kèm với các thương vụ mua lại bằng đòn bẩy tài chính cao hoặc tái cấu trúc vốn của một doanh nghiệp mà các chính sách tài chính, tới trước lúc đó, vốn thận trọng. Trong một thế giới của những vụ thâu tóm và có ít những chủ sở hữu kiêm quản lý, hầu hết các doanh nghiệp đều tiềm ẩn loại rủi ro này. Berkshire thì không. Charlie và tôi hứa sẽ dành cho những người nắm giữ trái phiếu sự tôn trọng giống như chúng tôi dành cho các cổ đông.
Ấn để đọc thư gửi cổ đông năm trước (1987) tại đây, hoặc đọc tiếp thư gửi cổ đông năm sau (1989) tại đây.