Chuỗi bài dịch này nhằm phổ biến kiến thức gốc trực tiếp từ Warren Buffett. Khác với bài dịch các nơi khác (mà bạn có thể dễ dàng có bằng việc dùng AI hay Google Dịch), mình sẽ không dịch toàn phần mà chỉ dịch tập trung vào các phần mình đánh giá có liên quan đến kiến thức, triết lý đầu tư, kinh doanh, quản lý và bỏ qua các thông tin như kết quả vận hành trong năm, thay đổi nhân sự quản lý…, và kèm chút ý kiến bình luận cá nhân nếu có.
Thư gửi cổ đông năm 1986
In past reports I have noted that book value at most companies differs widely from intrinsic business value – the number that really counts for owners. In our own case, however, book value has served for more than a decade as a reasonable if somewhat conservative proxy for business value. That is, our business value has moderately exceeded our book value, with the ratio between the two remaining fairly steady.
Dịch: Trong các báo cáo trước đây, tôi đã lưu ý rằng giá trị sổ sách tại hầu hết các công ty thường khác biệt rất lớn so với giá trị kinh doanh nội tại – con số mà thực sự đáng tính đối với các chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong trường hợp của chúng ta, suốt hơn một thập kỷ qua, giá trị sổ sách đã đóng vai trò là một chỉ số đại diện hợp lý, dù có phần thận trọng, cho giá trị kinh doanh. Tức là, giá trị kinh doanh của chúng ta đã vượt mức giá trị sổ sách một cách khiêm tốn, với tỷ lệ giữa hai con số này được duy trì khá ổn định.
A large measure of our improvement in business value relative to book value reflects the outstanding performance of key managers at our major operating businesses. These managers – the Blumkins, Mike Goldberg, the Heldmans, Chuck Huggins, Stan Lipsey, and Ralph Schey – have over the years improved the earnings of their businesses dramatically while, except in the case of insurance, utilizing little additional capital. This accomplishment builds economic value, or “Goodwill,” that does not show up in the net worth figure on our balance sheet, nor in our per-share book value. In 1986 this unrecorded gain was substantial.
Dịch: Một phần lớn trong sự cải thiện giá trị kinh doanh so với giá trị sổ sách, là sự thể hiện thành quả công việc xuất sắc của các nhà quản lý chủ chốt tại các doanh nghiệp vận hành chính của chúng ta. Những quản lý này – gia đình Blumkin, Mike Goldberg, gia đình Heldman, Chuck Huggins, Stan Lipsey và Ralph Schey – qua nhiều năm đã cải thiện lợi nhuận doanh nghiệp của họ một cách đáng kể trong khi, trừ trường hợp của mảng bảo hiểm, sử dụng ít vốn bổ sung. Thành tựu này xây dựng giá trị kinh tế, hay “Goodwill”, cái mà không xuất hiện trong số giá trị tài sản ròng trên bảng cân đối kế toán, cũng như trong giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu của chúng ta. Vào năm 1986, khoản tăng không được ghi nhận này là đáng kể.
Charlie Munger, our Vice Chairman, and I really have only two jobs. One is to attract and keep outstanding managers to run our various operations. This hasn’t been all that difficult. Usually the managers came with the companies we bought, having demonstrated their talents throughout careers that spanned a wide variety of business circumstances. They were managerial stars long before they knew us, and our main contribution has been to not get in their way. This approach seems elementary: if my job were to manage a golf team – and if Jack Nicklaus or Arnold Palmer were willing to play for me – neither would get a lot of directives from me about how to swing.
Dich: Charlie Munger, Phó Chủ tịch của chúng ta, và tôi thực sự chỉ có hai nhiệm vụ. Một là thu hút và giữ chân những quản lý xuất sắc để điều hành các doanh nghiệp khác nhau. Việc này không quá khó khăn. Thường thì các quản lý này đi kèm với những công ty mà chúng ta đã mua lại, khi họ đã chứng minh tài năng qua suốt sự nghiệp trải dài trong nhiều bối cảnh kinh doanh khác nhau. Họ vốn là những ngôi sao quản lý từ trước khi họ biết đến chúng tôi, và đóng góp chính của chúng tôi là không ngáng đường họ. Cách tiếp cận này có vẻ sơ đẳng: nếu công việc của tôi là quản lý một đội golf – và nếu Jack Nicklaus hay Arnold Palmer chịu chơi cho tôi – thì chẳng ai trong số họ sẽ phải nhận nhiều chỉ thị từ tôi về cách vung gậy cả.
Some of our key managers are independently wealthy (we hope they all become so), but that poses no threat to their continued interest: they work because they love what they do and relish the thrill of outstanding performance. They unfailingly think like owners (the highest compliment we can pay a manager) and find all aspects of their business absorbing.
Dịch: Một số nhà quản lý chủ chốt của chúng ta đã thịnh vượng độc lập (chúng tôi hy vọng tất cả họ sẽ đều như vậy), nhưng điều đó không hề đe dọa đến sự gắn bó lâu dài của họ: họ làm việc vì họ yêu những gì mình làm và tận hưởng cảm giác phấn khích khi đạt được thành quả xuất sắc. Họ luôn luôn suy nghĩ như những người chủ (lời khen cao quý nhất mà chúng tôi có thể dành cho một nhà quản lý) và thấy mọi khía cạnh trong công việc kinh doanh của mình đều cuốn hút.
(Our prototype for occupational fervor is the Catholic tailor who used his small savings of many years to finance a pilgrimage to the Vatican. When he returned, his parish held a special meeting to get his first-hand account of the Pope. “Tell us,” said the eager faithful, “just what sort of fellow is he?” Our hero wasted no words: “He’s a forty-four, medium.”)
Dịch: “Hình mẫu điển hình cho sự say mê công việc của chúng tôi là câu chuyện về một thợ may Công giáo. Ông ta đã dùng số tiền tiết kiệm ít ỏi suốt bao nhiêu năm trời để thực hiện chuyến hành hương đến Vatican. Khi ông ta trở về, giáo xứ đã tổ chức một buổi họp mặt đặc biệt để nghe ông kể trực tiếp về Giáo hoàng. “Kể đi”, các tín đồ háo hức hỏi, “Ngài là người như thế nào?”. Nhân vật chính của chúng ta không phí một từ nào: “Ngài cỡ 44, size M”)
Charlie and I know that the right players will make almost any team manager look good. We subscribe to the philosophy of Ogilvy & Mather’s founding genius, David Ogilvy: “If each of us hires people who are smaller than we are, we shall become a company of dwarfs. But, if each of us hires people who are bigger than we are, we shall become a company of giants.”
Dịch: “Charlie và tôi biết là những cầu thủ phù hợp sẽ làm cho gần như bất kỳ huấn luyện viên đội bóng nào cũng trông tài giỏi. Chúng tôi tuân theo triết lý của nhà sáng lập thiên tài của Ogilvy & Mather, David Ogilvy: “Nếu mỗi chúng ta đều tuyển những người thấp kém hơn mình, chúng ta sẽ trở thành một công ty của những người lùn. Nhưng nếu mỗi chúng ta đều tuyển những người cao to tài giỏi hơn mình, chúng ta sẽ trở thành một công ty của những người khổng lồ.”
• Bình luận: triết lý đúng đắn và đơn giản này, đáng tiếc là trong thực tế không phải lúc nào cũng được tuân theo. Bởi vì ở nhiều doanh nghiệp, người quyết định tuyển dụng “cầu thủ” mới lại không phải là “huấn luyện viên”, tức chủ doanh nghiệp như Buffett hay Ogilvy, mà lại là những “cầu thủ” cũ, tức quản lý làm thuê. Không ít quản lý đá thuê lo sợ, nếu tuyển ngôi sao vào, thì hào quang của họ sẽ bị lấn án, và một ngày nào đó họ sẽ bị soát vị. Vậy nên những quản lý này lại đi tuyển những người chỉ giỏi vừa đủ, thấp hơn họ chút ít, và sẽ không đe dọa đến họ. Đến ngày các quản lý cũ nghỉ hưu hay nhảy việc, những người thấp hơn chút ít kia, giờ được thăng chức lên làm quản lý. Họ, học cách người đi trước bảo vệ cái ghế cá nhân, sẽ lại tiếp tục chính sách tuyển người thấp kém hơn mình một chút. Cứ như vậy và rồi một công ty người lùn sẽ ra đời.
A by-product of our managerial style is the ability it gives us to easily expand Berkshire’s activities. We’ve read management treatises that specify exactly how many people should report to any one executive, but they make little sense to us. When you have able managers of high character running businesses about which they are passionate, you can have a dozen or more reporting to you and still have time for an afternoon nap. Conversely, if you have even one person reporting to you who is deceitful, inept or uninterested, you will find yourself with more than you can handle. Charlie and I could work with double the number of managers we now have, so long as they had the rare qualities of the present ones.
Dịch: Một phụ phẩm từ cách quản lý của chúng tôi, là khả năng nó cho phép chúng tôi dễ dàng mở rộng các hoạt động của Berkshire. Chúng tôi đã đọc nhiều luận thuyết quản trị ghi cụ thể nên có bao nhiều người báo cáo cho một quản lý, nhưng chúng tôi chẳng thấy chúng hợp lý tý nào. Khi quý vị có những quản lý tháo vát và đạo đức tốt điều hành công việc mà họ đam mê, quý vị có thể để hàng tá hoặc hơn, báo cáo trực tiếp cho mình mà vẫn có thời gian ngủ trưa. Ngược lại, nếu quý vị có dù chỉ một người báo cáo lên mình, nhưng lại là kẻ gian dối, bất tài hoặc vô tâm, quý vị sẽ thấy mình rơi vào tình trạng quá tải. Charlie và tôi có thể làm việc với số lượng quản lý gấp đôi hiện tại, miễn là họ sở hữu những phẩm chất hiếm có như đội ngũ hiện nay.
We intend to continue our practice of working only with people whom we like and admire. This policy not only maximizes our chances for good results, it also ensures us an extraordinarily good time. On the other hand, working with people who cause your stomach to churn seems much like marrying for money – probably a bad idea under any circumstances, but absolute madness if you are already rich.
Dịch: Chúng tôi dự định tiếp tục duy trì nguyên tắc chỉ làm việc với những người mà mình ưa thích và ngưỡng mộ. Chính sách này không chỉ tối đa hóa cơ hội đạt được kết quả tốt, mà còn đảm bảo cho chúng tôi một khoảng thời gian tuyệt vời. Mặt khác, phải làm việc với những người khiến bụng mình cồn cào thì giống như là cưới vì tiền – một ý tưởng có lẽ vốn đã tồi trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhưng lại là điên rồ tuyệt đối nếu mình đã giàu sẵn.
The second job Charlie and I must handle is the allocation of capital, which at Berkshire is a considerably more important challenge than at most companies. Three factors make that so: we earn more money than average; we retain all that we earn; and, we are fortunate to have operations that, for the most part, require little incremental capital to remain competitive and to grow. Obviously, the future results of a business earning 23% annually and retaining it all are far more affected by today’s capital allocations than are the results of a business earning 10% and distributing half of that to shareholders. If our retained earnings – and those of our major investees, GEICO and Capital Cities/ABC, Inc. – are employed in an unproductive manner, the economics of Berkshire will deteriorate very quickly. In a company adding only, say, 5% to net worth annually, capital-allocation decisions, though still important, will change the company’s economics far more slowly.
Dịch: Nhiệm vụ thứ hai mà Charlie và tôi phải đảm trách là phân bổ vốn, cái mà ở Berkshire là một thách thức quan trọng hơn đáng kể so với hầu hết các công ty khác. Ba yếu tố khiến nó như vậy: chúng ta kiếm được nhiều tiền hơn mặt bằng chung; chúng ta giữ lại toàn bộ số tiền kiếm được đó; và chúng ta may mắn có được các mảng kinh doanh mà phần lớn trong số đó yêu cầu ít vốn bổ sung để duy trì năng lực cạnh tranh và tăng trưởng. Rõ ràng là kết quả tương lai của một doanh nghiệp đạt tỷ suất lợi nhuận 23% mỗi năm và giữ lại tất cả, sẽ bị ảnh hưởng bởi việc phân bổ vốn hôm nay nhiều hơn hẳn so với kết quả của một doanh nghiệp chỉ kiếm được 10% lợi nhuận và chia một nửa số đó cho cổ đông. Nếu lợi nhuận giữ lại của chúng ta – và của các công ty được chúng ta đầu tư chính như GEICO và Capital Cities/ABC, Inc. – được sử dụng một cách không hiệu quả, vị thế kinh tế của Berkshire sẽ tụt dốc rất nhanh. Ở một công ty chỉ thêm khoảng 5% vào giá trị tài sản ròng mỗi năm, các quyết định phân bổ vốn dù vẫn quan trọng, nhưng sẽ làm thay đổi nền tảng kinh tế của công ty đó chậm hơn nhiều.
Fechheimer is exactly the sort of business we like to buy. Its economic record is superb; its managers are talented, high-grade, and love what they do; and the Heldman family wanted to continue its financial interest in partnership with us. Therefore, we quickly purchased about 84% of the stock for a price that was based upon a $55 million valuation for the entire business.
The circumstances of this acquisition were similar to those prevailing in our purchase of Nebraska Furniture Mart: most of the shares were held by people who wished to employ funds elsewhere; family members who enjoyed running their business wanted to continue both as owners and managers; several generations of the family were active in the business, providing management for as far as the eye can see; and the managing family wanted a purchaser who would not re-sell, regardless of price, and who would let the business be run in the future as it had been in the past. Both Fechheimer and NFM were right for us, and we were right for them.
Dịch: Fechheimer chính là kiểu doanh nghiệp mà chúng tôi muốn mua lại. Hồ sơ kinh tế của công ty là siêu việt; đội ngũ quản lý tài năng, phẩm chất cao và tâm huyết với công việc; và gia đình Heldman muốn tiếp tục duy trì lợi ích tài chính thông qua việc hợp tác với chúng ta. Vì vậy, chúng tôi đã nhanh chóng mua lại khoảng 84% cổ phần ở giá dựa trên mức định giá 55 triệu đô cho toàn bộ doanh nghiệp.
Bối cảnh của thương vụ này tương đồng với những gì đã diễn ra khi chúng tôi mua Nebraska Furniture Mart: phần lớn cổ phần được nắm giữ bởi những người muốn chuyển vốn sang mục đích khác; những thành viên trong gia đình yêu thích trực tiếp điều hành công ty thì muốn tiếp tục gắn bó với tư cách là chủ sở hữu lẫn nhà quản lý; nhiều thế hệ trong gia đình tham gia hoạt động, đảm bảo nguồn lực quản lý trong tầm nhìn có thể; và gia đình đang điều hành mong muốn tìm được một người mua mà sẽ không bán lại doanh nghiệp, bất kể giá nào, và để họ tiếp tục vận hành công ty như cách họ đã làm trong quá khứ. Cả Fechheimer và NFM đều là những lựa chọn phù hợp với chúng tôi, và chúng tôi cũng là đối tác đúng đắn dành cho họ.
You may be amused to know that neither Charlie nor I have been to Cincinnati, headquarters for Fechheimer, to see their operation. (And, incidentally, it works both ways: Chuck Huggins, who has been running See’s for 15 years, has never been to Omaha.) If our success were to depend upon insights we developed through plant inspections, Berkshire would be in big trouble. Rather, in considering an acquisition, we attempt to evaluate the economic characteristics of the business – its competitive strengths and weaknesses – and the quality of the people we will be joining. Fechheimer was a standout in both respects. In addition to Bob and George Heldman, who are in their mid-60s – spring chickens by our standards – there are three members of the next generation, Gary, Roger and Fred, to insure continuity.
Dịch: Quý vị có lẽ thấy buồn cười khi biết rằng cả Charlie và tôi đều chưa từng đến Cincinnati, trụ sở của Fechheimer, để xem xét hoạt động của họ. (Và nhân tiện, điều này cũng diễn ra theo chiều ngược lại: Chuck Huggins, người điều hành See’s trong suốt 15 năm, chưa bao giờ đặt chân đến Omaha). Nếu thành công của chúng tôi phụ thuộc vào những sáng kiến phát hiện khi đi kiểm tra nhà máy, thì Berkshire sẽ gặp rắc rối lớn. Thay vào đó, khi cân nhắc một vụ mua lại, chúng tôi cố đánh giá các đặc tính kinh tế của doanh nghiệp – những điểm mạnh và điểm yếu trong cạnh tranh – cùng phẩm chất của những người mà chúng tôi sẽ cùng đồng hành. Fechheimer nổi bật ở cả hai phương diện đó. Ngoài Bob và George Heldman, những người đang ở độ tuổi giữa 60 – thanh niên theo tiêu chuẩn của chúng tôi – thì còn có ba thành viên thế hệ sau là Gary, Roger và Fred để đảm bảo sự kế thừa.
• Bình luận: nhìn lại quá khứ từ hiện tại thì thương vụ mua lại Fechheimer Brothers, dù đã nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư, có lẽ chỉ đạt kết quả dưới tiêu chuẩn của Buffett; và nó bộc lộ bản chất rủi ro của việc mua công ty với đội ngũ quản lý ở tuổi thượng thọ. Chỉ 4 năm sau khi mua, đồng giám đốc George Heldman nghỉ hưu ở tuổi 69, không lâu sau đó đến lượt người anh và là giám đốc còn lại Robert Heldman (gọi tên ngắn là Bob ở trên) phát bệnh ở tuổi 71. Ba con của họ nêu tên ở trên kế thừa vị trí, nhưng có lẽ không đạt hiệu quả như ý, nên đến năm 1997 Buffett phải tuyển người ngoài Patrick Byrne (con trai của John Byrne, CEO đã cứu sống GEICO trước kia) về làm CEO, nhưng cũng chỉ được hai năm rồi lại đổi CEO mới Brad Kinstler (sau này trở thành CEO của See’s). Cho đến khi Buffett nghỉ hưu cuối năm 2025 thì Fechheimer đã gần như là vô danh trong tập hồ sơ doanh nghiệp của Berkshire (nhưng có lẽ Buffett vẫn duy trì triết lý áp dụng cho bộ phận dệt may, là một khi đã mua, nếu doanh nghiệp không lỗ, thì ông cũng không nỡ bán). Tuy nhiên cần nhớ là dù rủi ro này có tồn tại, thì triết lý trên của Buffett vẫn trúng nhiều hơn trượt.
Here’s what we’re looking for:
(1) large purchases (at least $10 million of after-tax earnings),
(2) demonstrated consistent earning power (future projections are of little interest to us, nor are “turn-around” situations),
(3) businesses earning good returns on equity whileemploying little or no debt.
(4) management in place (we can’t supply it),
(5) simple businesses (if there’s lots of technology, we won’t understand it),
(6) an offering price (we don’t want to waste our time or that of the seller by talking, even preliminarily, about a transaction when price is unknown).
Dịch: Đây là những điều chúng tôi đang tìm:
(1) các giao dịch lớn (ít nhất là 10 triệu đô lợi nhuận sau thuế),
(2) năng lực sinh lời ổn định đã được chứng minh (dự báo tương lai không phải là điều chúng tôi quan tâm, và các vụ “quay đầu” doanh nghiệp cũng thế),
(3) các doanh nghiệp có lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tốt trong khi sử dụng ít hoặc không sử dụng nợ
(4) ban quản lý có sẵn (chúng tôi không thể cung cấp cái này),
(5) các doanh nghiệp đơn giản (nếu có quá nhiều công nghệ, chúng tôi sẽ không hiểu được),
(6) giá đề xuất (chúng tôi không muốn lãng phí thời gian của mình hay của người bán với việc trao đổi, dù là sơ bộ, về một giao dịch mà giá chưa có).
We will not engage in unfriendly takeovers. We can promise complete confidentiality and a very fast answer – customarily within five minutes – as to whether we’re interested. We prefer to buy for cash, but will consider issuing stock when we receive as much in intrinsic business value as we give. Indeed, following recent advances in the price of Berkshire stock, transactions involving stock issuance may be quite feasible. We invite potential sellers to check us out by contacting people with whom we have done business in the past. For the right business – and the right people – we can provide a good home.
On the other hand, we frequently get approached about acquisitions that don’t come close to meeting our tests: new ventures, turnarounds, auction-like sales, and the ever-popular (among brokers) “I’m-sure-something-will-work-out-if-you-people-get-to-know-each-other.” None of these attracts us in the least.
Dịch: Chúng tôi sẽ không thực hiện các thương vụ thâu tóm thù địch. Chúng tôi có thể cam đoan bảo mật tuyệt đối và có câu trả lời rất nhanh – thường trong vòng năm phút – là liệu chúng tôi có quan tâm hay không. Chúng tôi ưu tiên mua bằng tiền mặt, nhưng sẽ xem xét việc phát hành cổ phiếu khi chúng tôi nhận về phần giá trị kinh doanh nội tại bằng với phần mà chúng tôi chi ra. Đúng là sau những bước tiến về giá của cổ phiếu Berkshire, giao dịch liên quan đến phát hành cổ phiếu có thể khá khả thi. Chúng tôi mời các bên bán tiềm năng tìm hiểu về chúng tôi bằng cách liên hệ với những người mà chúng tôi đã từng làm việc với trước đây. Đối với một doanh nghiệp phù hợp – và những con người phù hợp – chúng tôi có thể mang lại một mái nhà tốt.
Mặt khác, chúng tôi thường nhận được những lời chào mời mua lại mà còn không gần đáp ứng nổi các tiêu chuẩn của chúng tôi: các dự án mới, các thương vụ quay đầu, các cuộc bán đấu giá, và cực kỳ phổ biến (trong giới môi giới) là: “Tôi-chắc-chắn-sẽ-có-cái-gì-đấy-xảy-ra-nếu-mấy-người-làm-quen-với-nhau”. Không cái nào trong số này thu hút chúng tôi một chút nào.
The combined ratio represents total insurance costs (losses incurred plus expenses) compared to revenue from premiums: a ratio below 100 indicates an underwriting profit, and one above 100 indicates a loss. When the investment income that an insurer earns from holding on to policyholders’ funds (“the float”) is taken into account, a combined ratio in the 107-112 range typically produces an overall break-even result, exclusive of earnings on the funds provided by shareholders.
Dịch: Tỷ lệ kết hợp thể hiện tổng chi phí bảo hiểm (bao gồm các khoản bồi thường phát sinh cộng với chi phí hoạt động) so với doanh thu từ phí bảo hiểm: tỷ lệ dưới 100 cho thấy có lợi nhuận từ hoạt động thẩm định, và tỷ lệ trên 100 cho thấy bị lỗ. Khi thu nhập từ đầu tư mà một công ty bảo hiểm kiếm được từ việc nắm giữ tiền đóng bảo hiểm (tiền nổi) được tính vào, thì một tỷ lệ kết hợp trong khoảng 107-112 thường sẽ tạo ra kết quả hòa vốn tổng thể, không tính lợi nhuận từ nguồn vốn do các cổ đông đóng góp.
The math of the insurance business, encapsulated by the table, is not very complicated. In years when the industry’s annual gain in revenues (premiums) pokes along at 4% or 5%, underwriting losses are sure to mount. This is not because auto accidents, fires, windstorms and the like are occurring more frequently, nor has it lately been the fault of general inflation. Today, social and judicial inflation are the major culprits; the cost of entering a courtroom has simply ballooned. Part of the jump in cost arises from skyrocketing verdicts, and part from the tendency of judges and juries to expand the coverage of insurance policies beyond that contemplated by the insurer when the policies were written. Seeing no let-up in either trend, we continue to believe that the industry’s revenues must grow at close to 10% annually for it to just hold its own in terms of profitability, even though general inflation may be running only 2% – 4%.
Dịch: bài toán của ngành bảo hiểm, được tóm gọn trong bảng số liệu trên, là không quá phức tạp. Trong những năm mà mức tăng trưởng doanh thu (phí bảo hiểm) hàng năm của toàn ngành chỉ lẹt đẹt ở mức 4% hoặc 5%, các khoản lỗ thẩm định chắc chắn sẽ gia tăng. Điều này không phải vì tai nạn ô tô, hỏa hoạn, giông bão hay những cái tương tự xảy ra thường xuyên hơn, và gần đây cũng không phải lỗi do lạm phát chung. Ngày nay, lạm phát xã hội và lạm phát tư pháp mới là những thủ phạm chính; chi phí vào tòa án đơn giản là đã phình to. Một phần của sự nhảy vọt chi phí bắt nguồn từ những phán quyết bồi thường cao vọt, và một phần từ xu hướng của các thẩm phán và bồi thẩm đoàn trong việc mở rộng phạm vi chi trả của các hợp đồng bảo hiểm, vượt ngoài những gì được tiên kiến bởi công ty bảo hiểm khi soạn thảo hợp đồng. Nhận thấy cả hai xu hướng này đều không có dấu hiệu thuyên giảm, chúng tôi tiếp tục tin rằng doanh thu của ngành phải tăng trưởng ở mức gần 10% mỗi năm thì mới có thể duy trì được mức lợi nhuận hiện tại, ngay cả khi lạm phát chung chỉ đang ở mức 2% – 4%.
Pricing behavior in the insurance industry continues to be exactly what can be expected in a commodity-type business. Only under shortage conditions are high profits achieved, and such conditions don’t last long. When the profit sun begins to shine, long-established insurers shower investors with new shares in order to build capital. In addition, newly-formed insurers rush to sell shares at the advantageous prices available in the new-issue market (prices advantageous, that is, to the insiders promoting the company but rarely to the new shareholders). These moves guarantee future trouble: capacity soars, competitive juices flow, and prices fade.
Dịch: Hành vi định giá trong ngành bảo hiểm tiếp tục diễn ra đúng như những gì có thể kỳ vọng ở một ngành kinh doanh thương phẩm. Chỉ khi tình trạng nguồn cung khan hiếm thì mới có lợi nhuận cao, và tình trạng như vậy kéo dài không lâu. Khi mặt trời lợi nhuận vừa hé rạng, các công ty bảo hiểm lâu đời lập tức trút lên các nhà đầu tư những cổ phiếu mới phát hành để huy động vốn. Thêm vào đó, các công ty bảo hiểm mới thành lập cũng đổ xô đi bán cổ phiếu ở mức giá hời đang có trên thị trường phát hành mới (giá hời với những người bên trong đi quảng bá công ty chứ hiếm khi hời với các cổ đông mới). Những động thái này đảm bảo cho rắc rối tương lai: năng lực cung tăng vọt, sự cạnh tranh trở nên khốc liệt, và giá cả lụi tàn.
It’s interesting to observe insurance leaders beseech their colleagues to behave in a more “statesmanlike” manner when pricing policies. “Why,” they ask, “can’t we learn from history, even out the peaks and valleys, and consistently price to make reasonable profits?” What they wish, of course, is pricing that resembles, say, that of The Wall Street journal, whose prices are ample to start with and rise consistently each year.
Dịch: Thật thú vị khi quan sát các lãnh đạo trong ngành bảo hiểm cầu khẩn các đồng nghiệp của mình hãy hành xử như một chính khách có đẳng cấp khi định giá các hợp đồng. “Tại sao”, họ hỏi: “chúng ta không thể học hỏi từ lịch sử, làm bằng các đỉnh lẫn đáy, và định giá đều đặn ở mức sinh ra lợi nhuận hợp lý?“. Điều họ mong ước, dĩ nhiên rồi, là một cơ chế định giá giống như của Nhật báo phố Wall, cái mà giá có thừa ngay từ đầu và cứ tăng đều đặn hàng năm.
Such calls for improved behavior have all of the efficacy of those made by a Nebraska corn grower asking his fellow growers, worldwide, to market their corn with more statesmanship. What’s needed is not more statesmen, but less corn. By raising large amounts of capital in the last two years, the insurance industry has, to continue our metaphor, vastly expanded its plantings of corn. The resulting increase in “crop” – i.e., the proliferation of insurance capacity – will have the same effect on prices and profits that surplus crops have had since time immemorial.
Dịch: Những lời kêu gọi cải thiện hành vi như vậy cũng có hiệu quả như việc một người trồng ngô ở Nebraska kêu gọi các đồng nghiệp, trên toàn thế giới, hãy bán ngô một cách đẳng cấp hơn. Cái cần thiết không phải là có thêm nhiều chính khách đẳng cấp, mà là ít ngô đi. Với việc huy động một lượng vốn khổng lồ trong hai năm qua, ngành bảo hiểm đã, nếu tiếp tục dùng phép ẩn dụ của chúng tôi, mở rộng bao la diện tích trồng ngô. Hệ quả của việc gia tăng “cây trồng” – tức là sự bùng nổ của năng lực nguồn cung bảo hiểm – sẽ có tác động lên giá bán và lợi nhuận y hệt như những gì mà nông sản dư thừa đã gây ra từ thời xa xưa đến nay.
Interestingly, we were the slowest-growing large insurer in the years immediately preceding 1985. In fact, we shrank – and we will do so again from time to time in the future. Our large swings in volume do not mean that we come and go from the insurance marketplace. Indeed, we are its most steadfast participant, always standing ready, at prices we believe adequate, to write a wide variety of high-limit coverages. The swings in our volume arise instead from the here-today, gone-tomorrow behavior of other insurers. When most insurers are “gone,” because their capital is inadequate or they have been frightened by losses, insureds rush to us and find us ready to do business. But when hordes of insurers are “here,” and are slashing prices far below expectable costs, many customers naturally leave us in order to take advantage of the bargains temporarily being offered by our competition.
Dịch: Thú vị là chúng ta từng là công ty bảo hiểm lớn tăng trưởng chậm nhất trong những năm ngay trước 1985. Thực tế, chúng ta đã thu nhỏ – và chúng ta sẽ thỉnh thoảng lại như vậy trong tương lai. Sự dao động lớn về doanh số không có nghĩa là chúng ta cứ vào rồi ra khỏi thị trường bảo hiểm. Thực vậy, chúng ta mới là thành viên kiên định nhất của nó, luôn sẵn sàng, ở mức giá mà chúng tôi tin là thỏa đáng, ký kết các hợp đồng bảo hiểm hạn mức cao. Thay vào đó, sự dao động doanh số của chúng ta bắt nguồn từ hành vi nay-ở mai-đi của các công ty bảo hiểm khác. Khi hầu hết các công ty bảo hiểm “đi”, bởi vì vốn không đủ hoặc vì lo sợ thua lỗ, khách mua bảo hiểm sẽ đổ xô đến với chúng ta và thấy chúng ta luôn sẵn sàng giao dịch. Nhưng khi bầy đoàn công ty bảo hiểm “ở” và cắt giá xuống sâu hơn nhiều so với chi phí dự tính, nhiều khách hàng đương nhiên sẽ rời bỏ chúng ta để tận dụng những món hời tạm thời từ đối thủ cạnh tranh.
Our firmness on prices works no hardship on the consumer: he is being bombarded by attractively priced insurance offers at those times when we are doing little business. And it works no hardship on our employees: we don’t engage in layoffs when we experience a cyclical slowdown at one of our generally-profitable insurance operations. This no-layoff practice is in our self-interest. Employees who fear that large layoffs will accompany sizable reductions in premium volume will understandably produce scads of business through thick and thin (mostly thin).
Dịch: Sự cứng rắn về giá cả của chúng tôi không gây khó khăn cho người tiêu dùng: họ được bao vây bởi vô số lời chào mời bảo hiểm với giá hấp dẫn vào những thời điểm mà chúng ta kinh doanh ít. Nó cũng không gây khó khăn cho nhân viên của chúng ta: chúng tôi không thực hiện sa thải khi gặp phải sự suy giảm theo chu kỳ tại một trong những doanh nghiệp bảo hiểm trung bình thường có lãi. Chính sách không sa thải này là vì lợi ích của chính chúng ta. Nhân viên mà lo sợ việc sa thải hàng loạt mỗi khi doanh thu phí bảo hiểm sụt giảm đáng kể, thì là dễ hiểu khi họ sẽ tạo ra vô số hợp đồng bất chấp lời hay lỗ (đa phần là lỗ).
When insurance executives belatedly establish proper reserves, they often speak of “reserve strengthening,” a term that has a rather noble ring to it. They almost make it sound as if they are adding extra layers of strength to an already-solid balance sheet. That’s not the case: instead the term is a euphemism for what should more properly be called “correction of previous untruths” (albeit non-intentional ones).
Dịch: Khi các giám đốc công ty bảo hiểm muộn màng thiết lập các khoản dự phòng phù hợp, họ thường dùng cụm từ “củng cố dự phòng”, một từ có vẻ khá cao quý. Nó nghe gần như thể họ đang đắp thêm những lớp kiên cố vào một bảng cân đối kế toán vốn đã vững chắc. Nó không phải như vậy: thay vào đó, từ này là một uyển ngữ nói tránh cho cái mà đúng ra nên gọi là “sửa chữa những điều sai sự thật trước đây” (dù cho đó là không cố ý).
During 1986, our insurance companies purchased about $700 million of tax-exempt bonds, most having a maturity of 8 to 12 years. You might think that this commitment indicates a considerable enthusiasm for such bonds. Unfortunately, that’s not so: at best, the bonds are mediocre investments. They simply seemed the least objectionable alternative at the time we bought them, and still seem so. (Currently liking neither stocks nor bonds, I find myself the polar opposite of Mae West as she declared: “I like only two kinds of men – foreign and domestic.”)
Dịch: Trong năm 1986, các công ty bảo hiểm của chúng ta đã mua khoảng 700 triệu đô trái phiếu miễn thuế, phần lớn có kỳ hạn từ 8 đến 12 năm. Quý vị có thể nghĩ rằng sự cam kết này ra hiệu một sự nhiệt tình đáng kể cho các trái phiếu đó. Đáng tiếc là không phải vậy: ở mức tốt nhất, những trái phiếu này cũng chỉ là những khoản đầu tư tầm thường. Chúng đơn giản có vẻ là lựa chọn ít bị phản đối nhất vào thời điểm chúng tôi mua chúng, và hiện tại vẫn thế. (Hiện nay chẳng thích cả cổ phiếu lẫn trái phiếu, tôi thấy mình hoàn toàn trái ngược với Mae West khi bà tuyên bố: “Tôi chỉ thích hai loại đàn ông – ngoài nước và trong nước.”)
We must, of necessity, hold marketable securities in our insurance companies and, as money comes in, we have only five directions to go: (1) long-term common stock investments; (2) long-term fixed-income securities; (3) medium-term fixed-income securities; (4) short-term cash equivalents; and (5) short-term arbitrage commitments.
Dịch: Chúng tôi, theo sự bắt buộc, phải nắm giữ các chứng khoán có thể giao dịch trong các công ty bảo hiểm của mình, và khi tiền đổ về, chúng tôi chỉ có năm hướng để đi: (1) đầu tư vào cổ phiếu phổ thông dài hạn; (2) chứng khoán có thu nhập cố định dài hạn; (3) chứng khoán có thu nhập cố định trung hạn; (4) các khoản tương đương tiền ngắn hạn; và (5) các cam kết kinh doanh chênh lệch giá ngắn hạn.
Common stocks, of course, are the most fun. When conditions are right that is, when companies with good economics and good management sell well below intrinsic business value – stocks sometimes provide grand-slam home runs. But we currently find no equities that come close to meeting our tests. This statement in no way translates into a stock market prediction: we have no idea – and never have had – whether the market is going to go up, down, or sideways in the near- or intermediate term future.
Dịch: Cổ phiếu phổ thông, tất nhiên là mảng thú vị nhất. Khi mà các điều kiện hội hội tụ đủ, tức là khi những công ty có kinh tế tốt và ban quản lý giỏi được bán với mức thấp hơn nhiều giá trị kinh doanh nội tại – thì cổ phiếu đôi khi mang lại những cú ghi bàn rực rỡ. Nhưng hiện tại, chúng tôi không tìm thấy cổ phiếu nào gần dạt các tiêu chuẩn kiểm định của mình. Tuyên bố này không hề có nghĩa là một dự báo về thị trường chứng khoán: chúng tôi không biết – và chưa bao giờ từng biết – liệu thị trường sẽ đi lên, đi xuống hay đi ngang trong tương lai gần hoặc trung hạn.
What we do know, however, is that occasional outbreaks of those two super-contagious diseases, fear and greed, will forever occur in the investment community. The timing of these epidemics will be unpredictable. And the market aberrations produced by them will be equally unpredictable, both as to duration and degree. Therefore, we never try to anticipate the arrival or departure of either disease. Our goal is more modest: we simply attempt to be fearful when others are greedy and to be greedy only when others are fearful.
Dịch: Tuy nhiên, điều chúng tôi biết là những đợt bùng phát thi thoảng của hai căn bệnh siêu lây nhiễm, nỗi sợ và lòng tham, sẽ mãi mãi tồn tại trong cộng đồng đầu tư. Thời điểm bùng phát những dịch bệnh này là không thể dự đoán trước. Và những sai lệch thị trường do chúng tạo ra cũng sẽ không lường trước được, cả về thời gian lẫn mức độ. Vì vậy, chúng tôi không bao giờ cố dự đoán thời điểm đến hay đi của những căn bệnh này. Mục tiêu của chúng tôi khiêm tốn hơn nhiều: chúng tôi đơn giản chỉ cố sợ hãi khi người khác tham lam, và tham lam khi người khác sợ hãi.
• Bình luận: câu “sợ hãi khi người khác tham lam, và tham lam khi người khác sợ hãi”, đại diện hàng đầu cho triết lý đầu tư trái ngược, thực sự là nói thì dễ hơn làm. Vì để biết hướng đi mà ngược thì phải biết bầy đàn đang đi xuôi hướng nào. Để có thể biết sự tồn tại của những cám dỗ hay chỉ trích của đám đông, nhưng lại không bị rung động bởi chúng (rất khác với việc bịt tai bịt mắt không nghe không biết), yêu cầu một kỷ luật cảm xúc phi thường. Đặc biệt lưu ý đây là vấn đề cảm xúc chứ không trí thông minh:
Isaac Newton, thường được coi là một trong những người thông mình nhất từng sống, đã bán chốt lời cổ phiếu công ty South Sea của mình vào nửa đầu năm 1720. Nhưng chỉ một tháng sau, khi thấy giá cổ phiếu vẫn tiếp tục cất cánh, ông đã nhảy lại vào mua đỉnh. Và kết quả là đã mất ước tính tối thiểu trên 10.000 bảng Anh – nếu chỉ tính riêng phần giá trị bị mất của số cổ phiếu ông mua lại, cho đến khoảng 30.000 bảng – nếu tính cả chi phí cơ hội của việc ông bán các chứng khoán khác đang có để lấy tiền đi mua South Sea (30.000 bảng Anh cũng là chính số gia tài ông để lại khi qua đời 7 năm sau đó, tương đương khoảng 5,5 triệu bảng Anh hay hơn 7 triệu đô Mỹ tại năm 2026).
As this is written, little fear is visible in Wall Street. Instead, euphoria prevails – and why not? What could be more exhilarating than to participate in a bull market in which the rewards to owners of businesses become gloriously uncoupled from the plodding performances of the businesses themselves. Unfortunately, however, stocks can’t outperform businesses indefinitely.
Dịch: Khi những dòng này được viết, nỗi sợ đang vắng bóng trên Phố Wall. Thay vào đó là sự hưng phấn đang chiếm thế – và tại sao lại không? Cái gì có thể phấn khích hơn là khi tham gia vào một thị trường bò, nơi mà phần thưởng cho các chủ doanh nghiệp được tách rời một cách huy hoàng khỏi các thành quả chậm chạp của chính các doanh nghiệp đó. Nhưng đáng tiếc là giá cổ phiếu không thể tăng vượt trên việc kinh doanh mãi mãi.
Indeed, because of the heavy transaction and investment management costs they bear, stockholders as a whole and over the long term must inevitably underperform the companies they own. If American business, in aggregate, earns about 12% on equity annually, investors must end up earning significantly less. Bull markets can obscure mathematical laws, but they cannot repeal them.
Dịch: Đúng vậy, do phải gánh những chi phí giao dịch và quản lý đầu tư nặng nề, các cổ đông xét theo tổng thể và về dài hạn tất phải có kết quả kém hơn chính các doanh nghiệp mà họ sở hữu. Nếu các doanh nghiệp Mỹ, tính gộp lại, đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu khoảng 12% mỗi năm, thì các nhà đầu tư phải nhận về con số thấp hơn đáng kể. Thị trường bò có thể che khuất các quy luật toán học, nhưng chúng không thể bãi bỏ được các quy luật đó.
The second category of investments open to our insurance companies is long-term bonds. These are unlikely to be of interest to us except in very special situations, such as the Washington Public Power Supply System #1, #2 and #3 issues, discussed in our 1984 report. (At yearend, we owned WPPSS issues having an amortized cost of $218 million and a market value of $310 million, paying us $31.7 million in annual tax-exempt income.) Our aversion to long-term bonds relates to our fear that we will see much higher rates of inflation within the next decade. Over time, the behavior of our currency will be determined by the behavior of our legislators. This relationship poses a continuing threat to currency stability – and a corresponding threat to the owners of long-term bonds.
Dịch: Danh mục đầu tư thứ hai mở cửa với các công ty bảo hiểm của chúng ta là trái phiếu dài hạn. Chúng ít khả năng sẽ thu hút sự quan tâm của chúng tôi, trừ những tình huống rất đặc biệt, như các đợt phát hành số 1, số 2 và số 3 của Hệ thống cung cấp điện công cộng Washington, đã được thảo luận trong báo cáo năm 1984. (Vào cuối năm, chúng ta sở hữu các trái phiếu WPPSS với giá trị phân bổ là 218 triệu đô và giá trị thị trường là 310 triệu đô, trả cho chúng ta 31,7 triệu đô thu nhập miễn thuế hàng năm). Sự ác cảm của chúng tôi đối với trái phiếu dài hạn liên quan đến nỗi sợ là mình sẽ chứng kiến tỷ lệ lạm phát cao hơn nhiều trong thập kỷ tới. Theo thời gian, hành vi của đồng tiền sẽ được quyết định bởi hành vi của các nhà lập pháp. Mối quan hệ này tạo ra một mối đe dọa thường trực đối với sự ổn định của tiền tệ – và một mối đe dọa tương ứng đối với những người nắm trái phiếu dài hạn.
We continue to periodically employ money in the arbitrage field. However, unlike most arbitrageurs, who purchase dozens of securities each year, we purchase only a few. We restrict ourselves to large deals that have been announced publicly and do not bet on the come. Therefore, our potential profits are apt to be small; but, with luck, our disappointments will also be few.
Dịch: Chúng tôi tiếp tục định kỳ sử dụng vốn vào lĩnh vực kinh doanh chênh lệch giá. Tuy nhiên, khác với hầu hết các bên kinh doanh chênh lệch giá khác, những người mua vào hàng chục chứng khoán mỗi năm, chúng tôi chỉ mua một vài cái. Chúng tôi giới hạn bản thân chỉ vào những thương vụ lớn đã được công bố công khai và không đặt cược vào may rủi tương lai. Do đó, lợi nhuận tiềm năng của chúng tôi sẽ nhỏ; nhưng với may mắn, những sự thất vọng của cũng sẽ ít.
• Bình luận: “bet on the come” trong cờ bạc, ví dụ như chơi bài poker, là đặt cược mình sẽ bốc được lá bài may mắn, thay vì đặt cược dựa trên sức mạnh của lá bài trên tay hay dưới bàn. Trong kinh doanh chênh lệch giá sát nhập thì nó có nghĩa là: một bên mua cổ phiếu công ty A vì kỳ vọng công ty A sẽ được một công ty nào khác đề xuất mua lại, dù cho chưa hề có thông tin chính thức nào được công bố (đa phần sự kỳ vọng bắt nguồn từ các tin đồn là có thông tin nội bộ bí mật, chứ không phải từ phân tích lý trí).
Our yearend portfolio shown below includes one arbitrage commitment, Lear-Siegler. Our balance sheet also includes a receivable for $145 million, representing the money owed us (and paid a few days later) by Unilever, then in the process of purchasing Chesebrough-Ponds, another of our arbitrage holdings. Arbitrage is an alternative to Treasury Bills as a short-term parking place for money – a choice that combines potentially higher returns with higher risks. To date, our returns from the funds committed to arbitrage have been many times higher than they would have been had we left those funds in Treasury Bills. Nonetheless, one bad experience could change the scorecard markedly.
Dịch: Danh mục đầu tư cuối năm của chúng ta được trình bày dưới đây bao gồm một khoản cam kết kinh doanh chênh lệch giá, Lear-Siegler. Bảng cân đối kế toán của chúng ta cũng bao gồm một khoản phải thu trị giá 145 triệu đô, đại diện cho số tiền nợ (và đã trả vài ngày sau đó) bởi Unilever, khi họ đang trong quá trình mua lại Chesebrough-Ponds – một khoản đầu tư chênh lệch giá khác của chúng tôi. Kinh doanh chênh lệch giá là một sự thay thế cho Tín phiếu Kho bạc, để làm nơi đỗ tiền ngắn hạn – một lựa chọn kết hợp giữa lợi nhuận tiềm năng cao hơn với rủi ro cũng cao hơn. Cho đến nay, lợi nhuận của chúng tối từ các nguồn vốn dành cho kinh doanh chênh lệch giá đã cao hơn nhiều lần so với việc chúng tôi để số vốn đó trong Tín phiếu Kho bạc. Mặc dù vậy, chỉ cần một trải nghiệm tệ cũng có thể làm thay đổi bảng điểm một cách đáng kể.
We also, though it takes some straining, currently view medium-term tax-exempt bonds as an alternative to short-term Treasury holdings. Buying these bonds, we run a risk of significant loss if, as seems probable, we sell many of them well before maturity. However, we believe this risk is more than counter-balanced first, by the much higher after-tax returns currently realizable from these securities as compared to Treasury Bills and second, by the possibility that sales will produce an overall profit rather than a loss. Our expectation of a higher total return, after allowing for the possibility of loss and after taking into account all tax effects, is a relatively close call and could well be wrong. Even if we sell our bonds at a fairly large loss, however, we may end up reaping a higher after-tax return than we would have realized by repeatedly rolling over Treasury Bills.
Dịch: Chúng tôi cũng, dù hơi gượng ép, đang xem xét các loại trái phiếu miễn thuế trung hạn như một phương án thay thế cho việc nắm giữ Tín phiếu Kho bạc ngắn hạn. Khi mua những trái phiếu này, chúng tôi có rủi ro thua lỗ đáng kể nếu, khá khả năng, bán nhiều mã trong số đó trước khi đáo hạn. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng rủi ro này được cân bằng hơn cả đủ bởi, thứ nhất là lợi nhuận sau thuế hiện tại từ các chứng khoán này so với Tín phiếu Kho bạc, và thứ hai là khả năng lúc bán sẽ tạo ra lợi nhuận tổng thể thay vì lỗ. Kỳ vọng của chúng tôi về một mức tổng lợi nhuận cao hơn, sau khi đã dự phòng khả năng lỗ và tính đến tất cả các tác động về thuế, là một quyết định khá sít sao và hoàn toàn có thể sai lầm. Dù vậy, ngay cả khi chúng tôi phải bán trái phiếu của mình ở mức lỗ tương đối lớn, chúng ta vẫn có thể nhận được lợi nhuận sau thuế cao hơn so với việc liên tục quay vòng vốn vào Tín phiếu Kho bạc.
In any event, you should know that our expectations for both the stocks and bonds we now hold are exceptionally modest, given current market levels. Probably the best thing that could happen to us is a market in which we would choose to sell many of our bond holdings at a significant loss in order to re-allocate funds to the far-better equity values then very likely to exist. The bond losses I am talking about would occur if high interest rates came along; the same rates would probably depress common stocks considerably more than medium-term bonds.
Dịch: Dù thế nào đi nữa, quý vị nên biết rằng kỳ vọng của chúng tôi đối với cả cổ phiếu và trái phiếu mà mình đang giữ là cực kỳ khiêm tốn, xét theo mặt bằng thị trường hiện tại. Có lẽ điều tốt nhất có thể xảy ra với chúng ta là một thị trường mà chúng tôi chọn bán nhiều khoản trái phiếu đang nắm giữ với mức lỗ đáng kể để tái phân bổ nguồn vốn vào các cổ phiếu có giá trị hấp dẫn hơn nhiều, cái mà rất có khả năng xuất hiện khi đó. Những khoản lỗ trái phiếu mà tôi đang đề cập sẽ xảy ra nếu lãi suất cao xuất hiện; và chính mức lãi suất đó khả năng là sẽ đè nặng lên cổ phiếu phổ thông đáng kể hơn so với các loại trái phiếu trung hạn.
We should note that we expect to keep permanently our three primary holdings, Capital Cities/ABC, Inc., GEICO Corporation, and The Washington Post. Even if these securities were to appear significantly overpriced, we would not anticipate selling them, just as we would not sell See’s or Buffalo Evening News if someone were to offer us a price far above what we believe those businesses are worth.
This attitude may seem old-fashioned in a corporate world in which activity has become the order of the day. The modern manager refers to his “portfolio” of businesses – meaning that all of them are candidates for “restructuring” whenever such a move is dictated by Wall Street preferences, operating conditions or a new corporate “concept.” (Restructuring is defined narrowly, however: it extends only to dumping offending businesses, not to dumping the officers and directors who bought the businesses in the first place. “Hate the sin but love the sinner” is a theology as popular with the Fortune 500 as it is with the Salvation Army.)
Dịch: Chúng tôi nên lưu ý rằng chúng tôi dự kiến sẽ giữ vĩnh viễn ba khoản đầu tư chính, bao gồm: Capital Cities/ABC, Inc., công ty GEICO và báo Washington Post. Ngay cả khi những chứng khoán này có vẻ bị định giá quá cao một cách đáng kể, chúng tôi cũng không dự tính bán chúng, giống như việc chúng tôi sẽ không bán See’s Candy hay Buffalo Evening News nếu có ai đó trả mức giá cao hơn nhiều so với giá mà chúng tôi tin những doanh nghiệp đó đáng được.
Thái độ này có vẻ lỗi thời trong một thế giới doanh nghiệp nơi mà các hoạt động trở thành mệnh lệnh của thời đại. Các quản lý hiện đại thường nhắc đến “danh mục” mảng kinh doanh của mình – hàm ý là tất cả chúng đều là ứng viên cho việc “tái cấu trúc” bất cứ khi nào động thái đó được ra lệnh bởi thị hiếu phố Wall, các điều kiện vận hành hoặc một “khái niệm” doanh nghiệp mới nào đó. (Tuy nhiên, việc tái cấu trúc được định nghĩa một cách hạn hẹp: nó chỉ bao gồm việc tống khứ các mảng kinh doanh phạm lỗi, chứ không tống khứ những quan chức và giám đốc đã mua các mảng kinh doanh đó ban đầu. “Ghét tội lỗi nhưng yêu tội đồ” là một thần học phổ biến với các công ty Fortune 500 như là với Đạo quân cứu thế vậy.)
Investment managers are even more hyperkinetic: their behavior during trading hours makes whirling dervishes appear sedated by comparison. Indeed, the term “institutional investor” is becoming one of those self-contradictions called an oxymoron, comparable to “jumbo shrimp,” “lady mudwrestler” and “inexpensive lawyer.”
Despite the enthusiasm for activity that has swept business and financial America, we will stick with our ‘til-death-do-us-part policy. It’s the only one with which Charlie and I are comfortable, it produces decent results, and it lets our managers and those of our investees run their businesses free of distractions.
Dịch: Các quản lý đầu tư thậm chí còn tăng động hơn: hành vi của họ trong giờ giao dịch khiến những tu sĩ múa xoay vòng trông cứ như bị đánh thuốc mê vậy. Đúng vậy, từ “nhà đầu tư tổ chức” đang trở thành một trong những thứ tự mâu thuẫn được gọi là nghịch lý tu từ, tương tự như các cụm từ “khổng lồ tí hon”, “quý bà đô vật bùn” hay “luật sư giá rẻ”.
Bất chấp sự cuồng nhiệt với các hoạt động mà đang quét qua giới kinh doanh và tài chính Mỹ, chúng tôi vẫn bám vào chính sách đến-khi-cái-chết-chia-lìa-ta. Đó là cái duy nhất Charlie và tôi cảm thấy thoải mái, nó tạo ra kết quả ổn, và nó cho phép các quản lý của chúng ta cũng như của các công ty mà chúng ta đầu tư điều hành doanh nghiệp mà không bị xao nhãng.
• Bình luận: hai lý do chính có lẽ khiến Buffett từ chối bán bất kể giá cao, một là chi phí cơ hội: nếu bán xong thì ông sẽ làm gì với tiền thu về? Ở trên Buffett nhắc nhiều đến việc các cổ phiếu trên thị trường bị định giá cao, và các chứng khoán khác như trái phiếu, tín phiếu kho bạc thì kém hấp dẫn do rủi ro lạm phát cao trở lại; trong khi đó một doanh nghiệp với lợi thế cạnh tranh cao lại là sự bảo vệ tốt nhất khỏi lạm phát. Hai là duy trì mối quan hệ tốt với các quản lý để họ an tâm làm việc, không phải chạy theo sức ép ngắn hạn hay thị hiếu nhất thời. Với triết lý quản lý không buông cương thì có lẽ Buffett còn cần những quản lý đó hơn là họ cần công việc (người giỏi thì không lo thiếu việc, chưa kể nhiều người trong số họ đã giàu sẵn rồi và đi làm vị họ muốn chứ không phải vì cần). Việc giữ chân những quản lý giỏi không chỉ giúp Buffett đỡ đau đầu tìm người mới, mà nó cũng khiến những người chủ kiêm điều hành khác sẵn lòng bán doanh nghiệp cho Buffett, ví dụ như bà Blumkin của NFM.
I say this knowing that over the years there has been a lot of fuzzy and often partisan commentary about who really pays corporate taxes – businesses or their customers. The argument, of course, has usually turned around tax increases, not decreases. Those people resisting increases in corporate rates frequently argue that corporations in reality pay none of the taxes levied on them but, instead, act as a sort of economic pipeline, passing all taxes through to consumers. According to these advocates, any corporate-tax increase will simply lead to higher prices that, for the corporation, offset the increase. Having taken this position, proponents of the “pipeline” theory must also conclude that a tax decrease for corporations will not help profits but will instead flow through, leading to correspondingly lower prices for consumers.
Conversely, others argue that corporations not only pay the taxes levied upon them, but absorb them also. Consumers, this school says, will be unaffected by changes in corporate rates.
Dịch: Tôi nói điều này dù biết rằng trong suốt nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhận xét rối rắm và thường mang tính đảng phái về việc ai mới thực sự là người chi trả thuế thu nhập doanh nghiệp – doanh nghiệp hay là khách hàng của họ. Cuộc tranh luận này tất nhiên thường xoay quanh vấn đề tăng thuế chứ không phải giảm thuế. Những người phản đối việc tăng thuế suất doanh nghiệp thường lập luận rằng các doanh nghiệp, trên thực tế không hề chi trả bất kỳ khoản thuế nào bị đánh lên chúng; thay vào đó, chúng đóng vai trò như một đường ống kinh tế, chuyển toàn bộ gánh nặng thuế sang người tiêu dùng. Theo những người ủng hộ quan điểm này, bất kỳ sự gia tăng thuế doanh nghiệp nào cũng sẽ đơn giản dẫn đến việc doanh nghiệp tăng giá để bù đắp cho khoản thuế tăng đó. Một khi đã nhận quan điểm này, những người ủng hộ lý thuyết “đường ống” cũng phải đi đến kết luận rằng việc giảm thuế cho doanh nghiệp sẽ không giúp ích gì cho lợi nhuận, mà thay vào đó sẽ được chuyển tiếp đi, dẫn đến việc giảm giá tương ứng cho người tiêu dùng.
Ngược lại, những người khác lại lập luận rằng các tập đoàn không chỉ chi trả các khoản thuế bị đánh vào mình mà còn tự hấp thụ chúng. Người tiêu dùng, theo trường phái này, sẽ không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong thuế suất doanh nghiệp.
What really happens? When the corporate rate is cut, do Berkshire, The Washington Post, Cap Cities, etc., themselves soak up the benefits, or do these companies pass the benefits along to their customers in the form of lower prices? This is an important question for investors and managers, as well as for policymakers.
Our conclusion is that in some cases the benefits of lower corporate taxes fall exclusively, or almost exclusively, upon the corporation and its shareholders, and that in other cases the benefits are entirely, or almost entirely, passed through to the customer. What determines the outcome is the strength of the corporation’s business franchise and whether the profitability of that franchise is regulated.
Dịch: Điều gì thực sự xảy ra? Khi thuế suất doanh nghiệp được cắt giảm, liệu các công ty như Berkshire, Báo Washington Post, Cap Cities… sẽ tự mình hấp thụ các lợi ích đó, hay chúng sẽ chuyển những lợi ích này đến khách hàng của mình dưới hình thức giảm giá bán? Đây là một câu hỏi quan trọng đối với các nhà đầu tư và quản lý, cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách.
Kết luận của chúng tôi là: trong một số trường hợp, lợi ích từ việc giảm thuế doanh nghiệp thuộc về duy nhất, hoặc gần như duy nhất, chính doanh nghiệp và các cổ đông của nó; còn trong các trường hợp khác, lợi ích đó được chuyển toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ, cho khách hàng. Yếu tố quyết định kết quả này chính là đặc quyền kinh doanh (business franchise) của doanh nghiệp đó và liệu khả năng sinh lời của quyền kinh doanh đó có bị kiểm soát bởi các quy định pháp lý hay không.
For example, when the franchise is strong and after-tax profits are regulated in a relatively precise manner, as is the case with electric utilities, changes in corporate tax rates are largely reflected in prices, not in profits. When taxes are cut, prices will usually be reduced in short order. When taxes are increased, prices will rise, though often not as promptly.
Dịch: Ví dụ, khi đặc quyền mạnh và lợi nhuận sau thuế được điều tiết tương đối chi tiết, như trường hợp của các công ty điện lực, những thay đổi về thuế suất doanh nghiệp phần lớn được phản ánh vào giá cả chứ không phải lợi nhuận. Khi thuế được cắt giảm, giá cả thường sẽ giảm ngay sau đó. Khi thuế tăng lên, giá sẽ tăng, mặc dù thường không nhanh bằng.
A similar result occurs in a second arena – in the price-competitive industry, whose companies typically operate with very weak business franchises. In such industries, the free market “regulates” after-tax profits in a delayed and irregular, but generally effective, manner. The marketplace, in effect, performs much the same function in dealing with the price-competitive industry as the Public Utilities Commission does in dealing with electric utilities. In these industries, therefore, tax changes eventually affect prices more than profits.
Dịch: Một kết quả tương tự cũng xảy ra ở một đấu trường thứ hai – các ngành cạnh tranh về giá, nơi các công ty thường hoạt động với đặc quyền kinh doanh rất yếu. Trong những ngành này, thị trường tự do “điều tiết” lợi nhuận sau thuế với một độ trễ và thiếu đều đặn, nhưng nhìn chung là hiệu quả. Thị trường, về bản chất, thực hiện chức năng tương tự đối với các ngành cạnh tranh về giá như việc mà Ủy ban dịch vụ công cộng làm đối với các công ty điện lực. Trong những ngành này, do đó, những thay đổi về thuế cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến giá cả nhiều hơn là lợi nhuận.
In the case of unregulated businesses blessed with strong franchises, however, it’s a different story: the corporation and its shareholders are then the major beneficiaries of tax cuts. These companies benefit from a tax cut much as the electric company would if it lacked a regulator to force down prices.
Dịch: Tuy nhiên, đối với trường hợp của các doanh nghiệp không bị điều tiết và may mắn có đặc quyền mạnh mẽ, câu chuyện lại hoàn toàn khác: khi đó, doanh nghiệp và các cổ đông của nó là những người hưởng lợi chính từ việc cắt giảm thuế. Những công ty này hưởng lợi từ việc giảm thuế tương tự như cách mà một công ty điện lực sẽ có được nếu nó thiếu đi một cơ quan quản lý điều tiết ép giá xuống.
Many of our businesses, both those we own in whole and in part, possess such franchises. Consequently, reductions in their taxes largely end up in our pockets rather than the pockets of our customers. While this may be impolitic to state, it is impossible to deny. If you are tempted to believe otherwise, think for a moment of the most able brain surgeon or lawyer in your area. Do you really expect the fees of this expert (the local “franchise-holder” in his or her specialty) to be reduced now that the top personal tax rate is being cut from 50% to 28%?
Dịch: Nhiều doanh nghiệp của chúng ta, bao gồm cả những công ty chúng ta sở hữu toàn bộ hoặc một phần, sở hữu những đặc quyền. Do đó, việc cắt giảm thuế của các doanh nghiệp này phần lớn cuối cùng lại chảy vào túi của chúng ta thay vì túi của khách hàng. Mặc dù nó là thiếu khôn ngoan chính trị khi nói ra điều này, nhưng nó là cái không thể phủ nhận. Nếu quý vị muốn tin vào điều ngược lại, hãy thử nghĩ chút về bác sĩ phẫu thuật não hoặc luật sư giỏi nhất trong vùng của mình. Quý vị có thực sự kỳ vọng rằng mức phí của chuyên gia này (người “giữ đặc quyền hoạt động” tại địa phương trong lĩnh vực chuyên môn của họ) sẽ giảm khi mà giờ mức thuế thu nhập cá nhân cao nhất giảm từ 50% xuống còn 28% không?
We bought a corporate jet last year. What you have heard about such planes is true: they are very expensive and a luxury in situations like ours where little travel to out-of-the-way places is required. And planes not only cost a lot to operate, they cost a lot just to look at. Pre-tax, cost of capital plus depreciation on a new $15 million plane probably runs $3 million annually. On our own plane, bought for $850,000 used, such costs run close to $200,000 annually.Dịch: Chúng tôi đã mua một chiếc phi cơ phản lực doanh nghiệp vào năm ngoái. Những gì quý vị từng nghe về loại máy bay này đều đúng: chúng rất đắt đỏ và là một thứ xa xỉ trong những hoàn cảnh mà nhu cầu di chuyển đến những-nơi-heo-hút như của chúng tôi là rất ít. Và máy bay không chỉ tốn nhiều tiền khi vận hành, chúng cũng tốn nhiền tiền chỉ để ngắm nhìn thôi. Tính trước thuế, chi phí vốn cộng với khấu hao cho một chiếc máy bay mới giá 15 triệu đô có lẽ tầm 3 triệu đô mỗi năm. Với chiếc máy bay của chúng tôi, mua cũ với giá 850.000 đô, những chi phí như vậy là khoảng gần 200.000 đô mỗi năm.Cognizant of such figures, your Chairman, unfortunately, has in the past made a number of rather intemperate remarks about corporate jets. Accordingly, prior to our purchase, I was forced into my Galileo mode. I promptly experienced the necessary “counter-revelation” and travel is now considerably easier – and considerably costlier – than in the past. Whether Berkshire will get its money’s worth from the plane is an open question, but I will work at achieving some business triumph that I can (no matter how dubiously) attribute to it. I’m afraid Ben Franklin had my number. Said he: “So convenient a thing it is to be a reasonable creature, since it enables one to find or make a reason for everything one has a mind to do.”
Ý thức được những con số đó, Chủ tịch của các vị, thật không may, trong quá khứ đã từng đưa ra một số nhận xét khá gay gắt về phi cơ phản lực doanh nghiệp. Vì vậy, trước khi mua, tôi đã bị buộc phải rơi vào trạng thái Galileo. Tôi lập tức trải nghiệm một sự “phản-khai sáng” cần thiết, và giờ đây việc đi lại đã trở nên dễ dàng hơn đáng kể – và cũng tốn kém hơn đáng kể – so với trước đây. Liệu Berkshire có thu lại được giá trị xứng đáng từ chiếc máy bay này hay không vẫn còn là một câu hỏi bỏ ngỏ, nhưng tôi sẽ nỗ lực để đạt được một thắng lợi kinh doanh nào đó mà tôi có thể (dù có mập mờ đến đâu) quy công cho nó. Tôi e rằng Ben Franklin đã đọc vị được tôi. Ông ấy từng nói: “Thật là tiện lợi khi là một sinh vật có lý trí, bởi nó cho phép ta tìm hay tạo ra một lý do cho mọi việc mà ta định làm.”
• Bình luận: Buffett cố tình để định dạng format câu đầu tiên chữ nhỏ như thể ông muốn dấu điều này đi. Dĩ nhiên nếu ông muốn dấu thật thì ông đã không viết về nó. Với tăng trưởng tài sản ròng của Berkshire năm 1986 là 492,5 triệu đô, nếu cái giá 850k đô có được ngụy trang thành một lỗi làm tròn, thì cũng khó ai tranh cãi. Trạng thái Galileo mà Buffett nhắc đến là về việc nhà khoa học Galileo, người ủng hộ thuyết nhật tâm của Copernicus, khi bị Giáo hội Công giáo bắt hầu tòa vì truyền bá kiến thức trái với Kinh Thánh (ủng hộ thuyết địa tâm), và trước sự đe dọa bị tra tấn, đã phải nói những điều ngược lại những thứ ông nói trước kia. Có lẽ Buffett dùng ví dụ này vì, giống như Galileo, dù giờ ông làm trái với điều ông nói trước đây, nhưng không có nghĩa là điều trước đây ông từng nói là sai – việc các quản lý lạm dụng tiền của người khác để chi cho các phúc lợi bản thân vẫn là điều đáng lên án. Chiếc máy bay đã qua sử dụng này được Buffett và Munger đặt tên là “không thể biện minh” (indefensible), nhưng có lẽ không thiếu các quản lý sẽ có thể biện minh cho việc họ mua những chiếc phi cơ mới đắt gấp 17 lần.
If we think through these questions, we can gain some insights about what may be called “owner earnings.” These represent (a) reported earnings plus (b) depreciation, depletion, amortization, and certain other non-cash charges such as Company N’s items (1) and (4) less (c) the average annual amount of capitalized expenditures for plant and equipment, etc. that the business requires to fully maintain its long-term competitive position and its unit volume. (If the business requires additional working capital to maintain its competitive position and unit volume, the increment also should be included in (c) . However, businesses following the LIFO inventory method usually do not require additional working capital if unit volume does not change.)
Dịch: Nếu chúng ta suy xét thấu đáo những câu hỏi này, chúng ta có thể thu được một số hiểu biết về cái có thể được gọi là “lợi nhuận chủ sở hữu”. Cái được đại diện bằng (a) lợi nhuận được báo cáo, cộng với (b) khấu hao, hao mòn, phân bổ và một số khoản chi phí phi tiền mặt khác như các mục (1) (chi phí tồn kho phi tiền mặt đặc biệt) và (4) (điều chỉnh phân bổ phi tiền mặt giữa các kỳ) của Công ty N, trừ đi (c) trung bình chi phí vốn hàng năm cho nhà xưởng và thiết bị, … mà doanh nghiệp yêu cầu để duy trì đầy đủ vị thế cạnh tranh lâu dài và sản lượng đơn vị của mình. (Nếu doanh nghiệp cần bổ xung vốn lưu động để duy trì vị thế cạnh tranh và sản lượng, phần bổ xung đó cũng nên được bao gồm vào mục (c). Tuy nhiên, các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê LIFO thường không yêu cầu thêm vốn lưu động nếu sản lượng đơn vị không thay đổi).
Our owner-earnings equation does not yield the deceptively precise figures provided by GAAP, since( c) must be a guess – and one sometimes very difficult to make. Despite this problem, we consider the owner earnings figure, not the GAAP figure, to be the relevant item for valuation purposes – both for investors in buying stocks and for managers in buying entire businesses. We agree with Keynes’s observation: “I would rather be vaguely right than precisely wrong.”
Dịch: Phương trình lợi nhuận chủ sở hữu của chúng tôi không trả ra được những con số chi li nhưng lừa dối như là được cung cấp bởi GAAP, bởi vì (c) là phải đoán mới có – và việc đoán này đôi khi rất khó làm. Bất chấp vấn đề này, chúng tôi coi con số lợi nhuận chủ sở hữu, chứ không phải con số theo GAAP, mới là thứ liên quan cho việc định giá – cho cả các nhà đầu tư khi mua cổ phiếu lẫn các quản lý khi mua toàn bộ doanh nghiệp. Chúng tôi đồng ý với nhận định của Keynes: “Tôi thà đúng đại khái mơ hồ còn hơn là sai chi li cụ thể.”
That is obviously a happy state of affairs. But calculations of this sort usually do not provide such pleasant news. Most managers probably will acknowledge that they need to spend something more than (b) on their businesses over the longer term just to hold their ground in terms of both unit volume and competitive position. When this imperative exists – that is, when ( c) exceeds (b) – GAAP earnings overstate owner earnings. Frequently this overstatement is substantial. The oil industry has in recent years provided a conspicuous example of this phenomenon. Had most major oil companies spent only (b) each year, they would have guaranteed their shrinkage in real terms.
Dịch: Đó rõ ràng là một trạng thái sự việc hạnh phúc. Nhưng những tính toán kiểu này thường sẽ tạo ra những tin vui vẻ như vậy. Hầu hết các quản lý có lẽ sẽ thừa nhận rằng, về lâu dài, họ cần tiêu nhiều hơn ở mục (b) vào doanh nghiệp của mình chỉ để giữ vững vị trí về sản lượng đơn vị lẫn vị thế cạnh tranh. Khi nhu cầu cấp thiết này tồn tại – tức là khi (c) vượt (b) – lợi nhuận theo GAAP phóng đại lợi nhuận của chủ sở hữu. Thường thì sự phóng đại này là khá đáng kể. Ngành dầu khí trong những năm gần đây là một ví dụ điển hình về hiện tượng này. Nếu hầu hết các công ty dầu khí lớn chỉ chi tiêu đúng bằng khoản (b) mỗi năm, họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự thu nhỏ về quy mô thực tế.
All of this points up the absurdity of the “cash flow” numbers that are often set forth in Wall Street reports. These numbers routinely include (a) plus (b) – but do not subtract ( c) . Most sales brochures of investment bankers also feature deceptive presentations of this kind. These imply that the business being offered is the commercial counterpart of the Pyramids – forever state-of-the-art, never needing to be replaced, improved or refurbished. Indeed, if all U.S. corporations were to be offered simultaneously for sale through our leading investment bankers – and if the sales brochures describing them were to be believed – governmental projections of national plant and equipment spending would have to be slashed by 90%.
Dịch: Tất cả những điều này chỉ ra sự phi lý của các con số “dòng tiền” thường được đưa ra trong các báo cáo tại Phố Wall. Những con số này thường xuyên bao gồm (a) cộng với (b) – nhưng lại không trừ đi (c). Hầu hết các tài liệu quảng cáo bán hàng của các ngân hàng đầu tư cũng bao gồm những trình bày gian dối kiểu này. Chúng ngầm ám chỉ rằng doanh nghiệp đang được chào mời là một phiên bản thương mại của các Kim Tự Tháp – mãi mãi tiên tiến nhất, không bao giờ cần thay thế, cải tiến hay tân trang. Thật vậy, nếu tất cả các doanh nghiệp Mỹ đồng loạt được rao bán qua các ngân hàng đầu tư hàng đầu của chúng ta – và nếu tin vào các quảng cáo mô tả chúng – thì các dự báo của chính phủ về chi tiêu toàn quốc cho nhà xưởng và thiết bị sẽ phải bị cắt giảm tới 90%.
“Cash Flow”, true, may serve as a shorthand of some utility in descriptions of certain real estate businesses or other enterprises that make huge initial outlays and only tiny outlays thereafter. A company whose only holding is a bridge or an extremely long-lived gas field would be an example. But “cash flow” is meaningless in such businesses as manufacturing, retailing, extractive companies, and utilities because, for them, ( c) is always significant. To be sure, businesses of this kind may in a given year be able to defer capital spending. But over a five- or ten-year period, they must make the investment – or the business decays.
Dịch: “Dòng tiền” đúng là có thể phục vụ như là một lối tắt với những hữu dụng nhất định, để mô tả một số doanh nghiệp bất động sản nào đó, hoặc các doanh nghiệp khác có khoản chi phí đầu tư ban đầu khổng lồ nhưng sau đó chỉ tốn những khoản chi phí tí hon. Một công ty mà tài sản duy nhất là một cây cầu hoặc một mỏ khí đốt có tuổi thọ cực dài sẽ là một ví dụ. Nhưng “dòng tiền” là vô nghĩa trong các ngành như sản xuất, bán lẻ, khai thác khoáng sản và dịch vụ công ích, vì với chúng, (c) là luôn đáng kể. Rõ ràng là các doanh nghiệp loại này có thể trì hoãn chi tiêu vốn trong một năm nào đó. Nhưng trong một khoảng thời gian năm hay mười năm, chúng bắt buộc phải thực hiện khoản tái đầu tư đó – nếu không, doanh nghiệp sẽ lụi tàn.
Why, then, are “cash flow” numbers so popular today? In answer, we confess our cynicism: we believe these numbers are frequently used by marketers of businesses and securities in attempts to justify the unjustifiable (and thereby to sell what should be the unsalable). When (a) – that is, GAAP earnings – looks by itself inadequate to service debt of a junk bond or justify a foolish stock price, how convenient it becomes for salesmen to focus on (a) + (b). But you shouldn’t add (b) without subtracting ( c) : though dentists correctly claim that if you ignore your teeth they’ll go away, the same is not true for ( c) . The company or investor believing that the debt-servicing ability or the equity valuation of an enterprise can be measured by totaling (a) and (b) while ignoring ( c) is headed for certain trouble.
Dịch: Vậy thì tại sao những con số “dòng tiền” lại phổ biến đến thế ngày nay? Để trả lời, chúng tôi thú nhận sự hoài nghi của mình: chúng tôi tin là những con số này thường xuyên được dùng bởi những người tiếp thị doanh nghiệp và chứng khoán, nhằm cố biện hộ cho những điều không thể biện hộ (và từ đó bán những thứ lẽ ra không thể bán được). Khi (a) – tức là lợi nhuận theo GAAP – đứng một mình có vẻ không đủ để trả nợ cho một trái phiếu rác hoặc biện minh cho một mức giá cổ phiếu ngớ ngẩn, thì nó thật tiện lợi cho những người bán hàng khi tập trung vào (a) + (b). Nhưng quý vị không nên cộng (b) mà không trừ (c): dù các nha sĩ nói đúng rằng nếu quý vị phớt lờ hàm răng của mình thì chúng sẽ biến mất, nhưng điều tương tự lại không đúng đối với mục (c). Công ty hoặc nhà đầu tư nào tin rằng khả năng trả nợ hoặc giá trị vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp có thể được đo lường bằng cách cộng tổng (a) và (b) trong khi phớt lờ (c) là đang hướng tới rắc rối.
Questioning GAAP figures may seem impious to some. After all, what are we paying the accountants for if it is not to deliver us the “truth” about our business. But the accountants’ job is to record, not to evaluate. The evaluation job falls to investors and managers.
Accounting numbers, of course, are the language of business and as such are of enormous help to anyone evaluating the worth of a business and tracking its progress. Charlie and I would be lost without these numbers: they invariably are the starting point for us in evaluating our own businesses and those of others. Managers and owners need to remember, however, that accounting is but an aid to business thinking, never a substitute for it.
Dịch: Việc nghi vấn các số liệu GAAP có vẻ là một hành động bất kính đối với một số người. Suy cho cùng, chúng ta trả tiền cho các kế toán viên để làm gì nếu không phải là để cung cấp cho chúng ta “sự thật” về doanh nghiệp của mình? Nhưng công việc của kế toán viên là ghi chép, chứ không phải đánh giá. Công việc đánh giá thuộc về các nhà đầu tư và các quản lý.
Tất nhiên, các con số kế toán là ngôn ngữ của kinh doanh và vì thế, là sự trợ giúp đắc lực cho bất kỳ ai đang đánh giá giá trị của một doanh nghiệp cũng như theo dõi tiến trình của nó. Charlie và tôi sẽ lạc lối nếu thiếu những con số này: chúng luôn là điểm khởi đầu cho chúng tôi trong việc đánh giá các doanh nghiệp của chính mình cũng như của những người khác. Tuy vậy, các nhà quản lý và chủ sở hữu cần nhớ rằng: kế toán chỉ là một công cụ hỗ trợ cho tư duy kinh doanh, chứ không bao giờ có thể thay thế nó.
Ấn để đọc thư gửi cổ đông năm trước (1985) tại đây, hoặc đọc tiếp thư gửi cổ đông năm sau (1987) tại đây.