Cách tính lợi nhuận đầu tư tài chính như thế nào

  Cơ Bản

Cách tính lợi nhuận đầu tư tài chính

So với các loại hình đầu tư khác thì việc tính toán đầu tư tài chính là rất dễ. Không bác sĩ nào dám đảm bảo bạn chạy bao nhiêu km thì sẽ giảm bao nhiêu cân (đầu tư sức khỏe), hay có giáo sư nào dám khẳng định học bao nhiêu năm đại học thì tốt nghiệp sẽ có thu nhập bao nhiêu (đầu tư trí tuệ). Đó là bởi vì, ngoài việc tương lai khó đoán ra, thì hai vế chi ra và thu về của các hoạt đầu tư phi tài chính là không cùng đơn vị.

Với đầu tư tài chính thì tất cả đều có thể quy về cùng một thước đo là số tiền, vậy nên công thức tính lợi nhuận tuyệt đối là:

Số tiền thu về – Số tiền chi ra = Lợi nhuận (tuyệt đối)

   Ví dụ 1: năm ngoái bạn chi ra 20 triệu cho một khoản đầu tư, năm nay số tiền bạn thu về từ nó là 21 triệu. Vậy lợi nhuận tuyệt đối của khoản đầu tư này là 1 triệu.

   Ví dụ 2: nếu năm ngoái bạn cũng chi ra 100 triệu cho một khoản đầu tư khác, năm nay bạn thu được 101 triệu. Vậy lợi nhuận tuyệt đối của khoản đầu tư này cũng là 1 triệu.

Dù hai khoản đầu tư đều sinh lời tuyệt đối là 1 triệu, nhưng ta có thể thấy rõ ràng là lợi ích của hai lựa chọn đầu tư này không ngang nhau. Vậy nên ngoài giá trị tuyệt đối ra thì ta cũng cần quan tâm đến giá trị phần trăm của lợi nhuận (còn gọi là tỷ lệ sinh lời), với công thức tính là:

Số tiền thu về
————————
Số tiền chi ra

–   1

=

Lợi nhuận (phần trăm)

Tiếp tục hai ví dụ trên:

   Ví dụ 1: năm ngoái chi ra 20 triệu và năm nay thu về 21 triệu; vậy thì lợi nhuận phần trăm của khoản đầu tư này là 5%/năm.

   Ví dụ 2: năm ngoái chi ra 100 triệu và năm này thu về 101 triệu; vậy thì lợi nhuận phần trăm của khoản đầu tư này là 1%/năm.

Như vậy ta có thể nói là khoản đầu tư đầu tiên có tỷ lệ sinh lời gấp 5 lần khoản đầu tư thứ hai.

Nhiều khoản đầu tư có thời gian sinh lời ngắn hơn hoặc lâu hơn một năm. Để tiện so sánh thì  lợi nhuận phần trăm của các khoản đầu tư sẽ được quy về theo hàng năm: đầu tư 100 triệu, năm 1 và năm 2 chưa sinh lời, năm 3 sinh lời 15tr → lợi nhuận phần trăm hàng năm = (15tr/100tr)/3 năm = 5%/năm.

Tỷ phú Warren Buffett có câu: “Giá cả là cái bạn chi ra, giá trị là cái bạn thu về” (“Price is what you pay, value is what you get”), chính là nói về số tiền chi ra và số tiền thu về. Và ai đã đầu tư tất sẽ muốn “Giá trị” lớn hơn “Giá cả”. Vậy câu hỏi quan trọng là:

"Giá trị" cần lớn hơn "Giá cả" bao nhiêu?

Để trả lời câu hỏi này thì sẽ có một vài yếu tố chính cần cân nhắc. Do hầu như mọi khoản đầu tư đều cần thời gian để sinh lời, mà tiền thì mất giá theo thời gian do lạm phát, vậy nên một trong những yếu tố đầu tiên cần nghĩ tới khi đầu tư là:

"Giá trị"/tỷ lệ sinh lời có lớn hơn lạm phát không?

Tiếp tục hai ví dụ trên và bổ xung thêm thông tin là lạm phát năm ngoái là 3%/năm, vậy:

   Ví dụ 1: tỷ lệ sinh lời là 5%/năm, lớn hơn lạm phát 3%/năm, vậy nên khoản đầu tư này có sinh lời cả danh nghĩa (5%) và thực tế (5% – 3% = 2%).

   Ví dụ 2: tỷ lệ sinh lời là 1%/năm, nhỏ hơn lạm phát 3%/năm, vậy nên khoản đầu tư này có sinh lời danh nghĩa (1%) nhưng không sinh lời thực tế (1% – 3% = -2%). Tức là nếu năm ngoái bạn tiêu hết 100 triệu thì vẫn mua được nhiều thứ hơn so với năm nay tiêu 101 triệu.

• Lời (hoặc lỗ) danh nghĩa là số tiền thu về chưa qua điều chỉnh lạm phát.
• Lời (hoặc lỗ) thực tế là số tiền thu về đã trừ đi lạm phát (hoặc thậm chí giảm phát/súc phát).

lợi nhuận so với lạm phát

Trong thực tế có rất nhiều hình thức đầu tư và cơ hội đầu tư khác nhau. Vậy nên sau lạm phát thì điều cần nghĩ tới tiếp theo là:

Khoản đầu tư nào có "giá trị"/sinh lời lớn nhất (chi phí cơ hội thấp nhất)?

Tạm bỏ qua yếu tố lạm phát, rủi ro… giả sử:

   Ví dụ 3: năm ngoái bạn chi ra 10 triệu gửi tiết kiệm ngân hàng, năm nay bạn thu về 10 triệu 600 nghìn; tức là khoản đầu tư này có tỷ lệ sinh lời là 6%/năm.

   Ví dụ 4: năm ngoái bạn chi ra 80 triệu gửi tiết kiệm ngân hàng, năm nay bạn thu về 84 triệu; tức là khoản đầu tư này có tỷ lệ sinh lời là 5%/năm.

Giữa hai ví dụ đầu tư trên thì bạn nên chọn cái nào? Câu trả lời là tùy!

Nếu không có giới hạn nào về tài chính hay số lượng cơ hội, thì bạn nên đầu tư tất cả tiền có thể vào lựa chọn có tỷ lệ sinh lời nhiều hơn, tức là ví dụ 3. Tuy nhiên thực tế thì luôn có giới hạn về khả năng tài chính của bạn, hay số lượng cơ hội đầu tư. Nếu ta bổ xung thêm thông tin về giới hạn số lượng cơ hội như sau:

   Ví dụ 3: ngân hàng chỉ cho mở một sổ trị giá đúng 10 triệu với lãi suất 6%/năm.

   Ví dụ 4: ngân hàng chỉ cho mở một sổ giá trị đúng 80 triệu với lãi suất 5%/năm.

Vậy lựa chọn nào tốt nhất còn tùy thuộc vào khả năng tài chính của bạn để tận dụng cơ hộ đó:

(A) Có 50 triệu(B) Có 85 triệu(C) Có 85 triệu(D) Có 100 triệu
Do không đủ số tiền gửi yêu cầu của ví dụ 4, nên ta chỉ có thể đầu tư tối đa số cho phép (10 triệu) vào ví dụ 3. 40 triệu còn dư để nguyên, không sinh lãi.Nếu ta đầu tư vào ví dụ 3 thì sẽ còn 75 triệu, không đạt yêu cầu số tiền gửi tối thiểu của ví dụ 4. Vậy 75 triệu dư để nguyên không, sinh lãi.Nếu ta đầu tư vào ví dụ 4 thì còn dư 5 triệu, không đạt yêu cầu số tiền gửi tối thiểu của ví dụ 3. Vậy 5 triệu dư để nguyên, không sinh lãi.Đầu tư cả vào ví dụ 3 và 4. Còn 10 triệu dư để nguyên, không sinh lãi.
Năm nay thu: (10 triệu tiền gốc) + (600k tiền lãi) + (40 triệu dư) = 50,6 triệuNăm nay thu: (10 triệu tiền gốc) + (600k tiền lãi) + (75 triệu dư) = 85,6 triệuNăm nay thu: (80 triệu tiền gốc) + (4 triệu tiền lãi) + (5 triệu dư) = 89 triệuNăm nay thu: (10 + 80 triệu tiền gốc) + (600k + 4 triệu tiền lãi) + (10 triệu dư) = 104,6 triệu

Nếu có ít hơn 80 triệu thì ta chỉ có thể chọn một khoản đầu tư duy nhất như (A); nếu có từ 90 triệu trở lên thì ta có thể chọn tất cả như (D). Vậy thực sự chỉ ở mức giữa – trên 80 triệu đến dưới 90 triệu, chúng ta mới phải lựa chọn. Và ở đây phương án (C) sinh lợi nhiều hơn, tức là có chi phí cơ hội cao hơn so với (B).

Ở các ví dụ trên tất cả các khoản chi ra đều trong một năm trước, còn các khoản thu về đều trong một năm sau. Ví dụ như vậy để dễ tính toán, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng thế. Nếu một bạn sinh viên đang cân nhắc học thạc sĩ hai năm (tiền học chi hàng năm) để về sau đi làm lương cao hơn (thu nhập đi làm mỗi năm tăng dần) thì sẽ phải tính như thế nào? Hay đọc tiếp cách tính giá trị hiện tại thuần (NPV) ở đây

LEAVE A COMMENT