Tại sao nói gửi tiết kiệm ngân hàng chắc chắn sẽ nhận được tiền lãi nhưng chưa chắc đã là lời? Đó là vì chúng ta chưa biết trong thời gian đó lạm phát là bao nhiêu. Nhưng mà:
Lạm phát là gì?
Lạm phát hiểu đơn giản là sự suy giảm sức mua của tiền tệ theo thời gian. Tức là cùng một số lượng tiền đó, thì sau này sẽ mua được ít sản phẩm/dịch vụ hơn so với trước đó. Ví dụ một số giá sản phẩm/dịch vụ ở Hà Nội:
Nếu năm 2000 bạn quyết định bỏ 50k (có thể mua 10 bát phở lúc đó) vào lợn đất, 25 năm sau bạn lấy ra, thì với 50k đó bạn chỉ ăn được 1 bát phở! (giá ăn phở tăng gấp 7 lần, hay 700% trong 25 năm). Tức là tiền đã mất giá (trị) so với trước kia.
Bời vì mục đích cuối cùng của tiền là để tiêu. Vậy nên một sổ tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, mà khi đáo hạn, tiền gốc và lãi nhận được, lại mua được lượng sản phẩm, dịch vụ bằng với trước khi gửi, thì tức là không có lời thực tế. Do đó trong mọi khoản đầu tư thì việc đầu tiên nhà đầu tư cần lưu ý là so sánh xem nó có sinh lời cao hơn lạm phát không.
Lạm phát được đo như thế nào?
Để đo lạm phát thì ta cần phải so sánh sự tăng giá của hàng hóa, dịch vụ trong hai mốc thời gian (một số mốc thời gian phổ biến là tháng này so với tháng trước, năm nay so với năm trước)
Do có rất nhiều sản phẩm, dịch vụ và mỗi thứ có mức tăng, giảm giá khác nhau, nên việc theo dõi thay đổi giá của mọi mặt hàng là không thực tế. Thay vào đó cơ quan chịu trách nhiệm đo lường lạm phát (ở Việt Nam là tổng cục thống kế) sẽ chọn những mặt hàng, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu hoặc phổ biến nhất (thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, nhà ở, đồ gia dụng… gọi chung là giỏ hàng hóa), tổng hợp và chia trung bình chúng theo tỷ lệ để tạo ra một thước đo chung gọi là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) – nếu nói lạm phát năm 2024 là 5% tức là trung bình giá cả các sản phẩm, dịch vụ (được thống kê) trong năm 2024 cao hơn 5% so với năm 2023, dù cho từng mặt hàng cụ thể có thể tăng nhiều hơn hoặc ít hơn 5%.
• CPI là cách đo lạm phát phổ biến nhất, nhưng còn có các cách đo lạm phát khác bên cạnh nó. Một cách đo khác đang được tổng cục thống kê sử dụng là lạm phát cơ bản (core inflation): loại bỏ một số mặt hàng hay biến động giá khỏi giỏ hàng hóa của GPI (lương thực, năng lượng như giá xăng, dầu…), để chỉ số lạm phát phản sát hơn ánh biến động lâu dài.
Để có thể dự đoán lạm phát cho tương lai chính xác nhất thì nhà đầu tư sẽ muốn biết:
Điều gì tạo nên lạm phát?
Giá của một sản phẩm/dịch vụ được chi phối bởi (nhu) cầu và (nguồn) cung. Đối với lạm phát thì cung là toàn bộ các hàng hóa/dịch vụ có trên thị trường, và cầu là số lượng tiền có trên thị trường để mua các sản phẩm/dịch vụ. Vậy nên nếu giá hiện tại cao hơn quá khứ thì có thể là do:
- Nguồn cung giảm: do chiến tranh, khủng hoảng, đại dịch, thay đổi luật pháp… làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, vận chuyển, buôn bán tới tay người tiêu dùng. Do số người và số lượng tiền trong toàn thị trường không đổi, nhưng số sản phẩm/dịch vụ có thể mua được ít hơn, nên giá mỗi sản phẩm/dịch vụ sẽ tăng. Ví dụ cách đây không lâu là đại dịch Covid-19 làm cho nhiều nhà máy ngưng sản xuất, nông dân thu hoạch thì gặp khó khăn trong vận chuyển hay bán đến người mua; hoặc nhiều nước thông qua luật bảo vệ môi trường, sức khỏe người tiêu dùng, cấm nhập/sử dụng các nguyên liệu độc hại như nhựa tái chế khiến giá các sản phẩm nhựa tăng.
- Nhu cầu tăng (nguồn cung tiền tăng): có lượng tiền lớn từ bên ngoài đổ vào (đầu tư, viện trợ từ nước ngoài, xuất khẩu, kiều hối, người nhập cư mang theo tiền vào…), tăng nội địa do thay đổi chính sách thuế (cắt, giảm thuế), chính sách tiền tệ (in tiền, nới lỏng giới hạn/room tín dụng), tăng chi tiêu chính phủ… khiến số tiền trong toàn thị trường tăng trong khi số sản phẩm/dịch vụ có thể mua được không đổi, dẫn đến giá mỗi sản phẩm/dịch vụ tăng. Việc các chính phủ tăng in tiền để trả nợ hoặc chi tiêu rồi dẫn đến lạm phát, từng xảy ra khá thường xuyên trong thế kỷ 20 nhưng sau những bài học rút ra từ các siêu lạm phát thì việc này giờ ít xảy ra hơn.
- Dự tính lạm phát: các yếu tố trên không nhất thiết phải xảy ra, mà chỉ cần người dân/chính phủ hành động theo dự tính là nó sẽ xảy ra, cũng có thể gây nên lạm phát. Ví dụ trong Covid-19 người dân dự đoán sẽ có phong tỏa, và mua tích trữ mì, gạo, giấy vệ sinh… khiến hết hàng và tăng giá, dù cho sau đó phong tỏa không xảy ra.
◦ Khi đọc các báo cáo, phân tích ở các nguồn khác nhau, có thể nhà đầu tư sẽ bối rối khi thấy chỉ số lạm phát mỗi nơi một khác. Đó là bởi vì có các cách tính lạm phát khác nhau, đọc tiếp các cách tính lạm phát tại đây.
Dù không nhà đầu tư cá nhân nào mong muốn lạm phát, nhưng nó là điều gần như không thể tránh khỏi trong nền kinh tế hiện đại. Bởi vì nếu một nền kinh tế không lạm phát thì khả năng rất cao nó đang bị suy thoái, mà suy thoái thì có ảnh hưởng tiêu cực toàn thị trường lớn hơn và khó xử lý hơn so với lạm phát nhiều. Vậy nên nhà đầu tư sẽ muốn biết:
Phòng chống lạm phát như thế nào?
Nếu tương lai tiền mua được ít sản phẩm/dịch hơn so với hiện tại thì cách chống lạm phát đơn giản nhất là tiêu tiền ngay tại hiện tại. Phương án này thường áp dụng cho các tài sản có thời gian sử dụng lâu dài như mua/xây nhà, xe, tivi, tủ lạnh, nội thất, đóng tiền (học, dịch vụ) trước cho cả năm… Tuy nhiên có nhiều sản phẩm/dịch vụ khác như đồ ăn, cắt tóc, chữa bệnh… mà có muốn tiêu nhiều và tiêu ngay ở thời điểm hiện nay cũng khó.
Ngoài ra nền kinh tế nói chung có thể bị lạm phát nhưng không phải sản phẩm dịch vụ cụ thể nào cũng sẽ tăng giá. Ví dụ giá cước viễn thông cho điện thoại, giá xe máy, thậm chí giá nước lọc đóng chai năm 2025 còn rẻ hơn so với những năm 2000. Còn một số sản phẩm sẽ nhanh chóng lỗi thời, ít hoặc không được sử dụng nữa – ví dụ nếu 2007 bạn mua Nokia hay Blackberry thì có thể chỉ một hai năm sau bạn đã muốn đổi điện thoại mới.
Vậy tức là việc tiêu hết tiền tại hiện tại để tránh lạm phát, là khó thực tế. Và nhà đầu tư trí tuệ sẽ muốn đầu tư số tiền tiết kiệm/nhàn rỗi để ít nhất có thể bảo vệ tiền của mình khỏi lạm phát. Đọc tiếp tại đây để biết các hình thức đầu tư phổ biến dành cho nhà đầu tư cá nhân.